Trang chủ >> Đường về Cực Lạc

CHƯƠNG THỨ TÁM P1

 TỨ CHÚNG VÃNG SANH TRUYỆN

Tịnh Độ châu sa giới

Vân hà độc lễ Tây ?

Đản năng hối nhứt niệm

Xúc xứ thị Bồ-đề !

Quan Âm đại sĩ

... Thuận theo lời dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà đến ra mắt Đức Từ Phụ A Di Đà Phật. Rồi thể theo chí nguyện của Đức Từ Phụ mà trở lại phụ trợ Đức Bổn Sư. Không rời Cực Lạc mà khắp đến mười phương, ngồi an trên liên đài mà phân thân Pháp giới.

Từ khi hai Đức Giáo chủ lập pháp đến nay, những người đã được như thế đông nhiều như số cát sông Hằng...

TỊNH ĐỘ THẬP NGHI LUẬN TỰ

TỨ CHÚNG VÃNG SANH THỨ NHỨT

A 1 - CHƯ SƯ TĂNG

I - TRÍ NGHỊ ([1])

Trí Nghị Đại sư họ Trần, tự Đức An, người Tần Xuyên. Thân mẫu mơ thấy khói thơm năm màu phủ thân mình mà có thai. Giờ sanh ngài, cả nhà thoạt sáng rực. Mắt ngài có con ngươi đôi. Từ bé, lúc nằm bao giờ ngài cũng nghiêng về hông bên mặt, lúc ngồi bao giờ cũng xếp bằng và xoay mặt về hướng Tây. Lớn lên, hễ gặp tượng Phật, tượng Bồ Tát, ngài liền đảnh lễ, còn gặp Sư Tăng, ngài liền cung kính.

Năm 18 tuổi, ngài xuất gia tại chùa Quả Nguyện ở Tương Châu. Ngài thông Luật tạng, tụng Kinh Pháp Hoa, thích ngồi thiền.

Ít lúc sau, ngài đến núi Đại Tô ở Quang Châu tham lễ Huệ Tư Thiền sư([2]). Thiền sư vừa thấy ngài liền nói : “Lúc Đức Phật còn tại thế, ông và ta đồng dự hội Pháp Hoa. Do túc duyên ấy nên nay ông tìm đến ta”. Thiền sư liền dạy ngài môn “Pháp Hoa Tam muội” và giảng “Tứ an lạc hạnh”([3]). Ngài bèn ở lại núi này mà tu Pháp Hoa Tam muội. Vừa được ba đêm, khi tụng đến câu “Thị chơn tinh tấn danh chơn pháp cúng dường Như Lai” trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Nguyện, thân tâm ngài bỗng rỗng rang tịch tịnh mà nhập định, chiếu suốt Pháp Hoa, thấu rõ các pháp tướng, được Huệ Tư Thiền sư ấn khả.

Năm Quang Đại triều Trần, ngài đến Kim Lăng ở chùa Ngõa Quan rộng truyền pháp môn tu thiền. Năm Đại Kiến, ngài qua núi Thiên Thai tại Lâm Hải cất am mà ở. Không bao lâu ngài lại phụng chiếu trở về Kim Lăng.

Nhà Trần mất, ngài đi qua Lô Sơn và các xứ Kinh Châu, Dương Châu.

Năm Khai Hoàng triều Tùy, ngài trở lại Thiên Thai.

Trước sau ngài dựng 36 cảnh chùa, đúc tám mươi vạn (800.000) tượng Phật đồng. Đích thân ngài độ được 14.000 vị Tăng. Ngài mua những hào, rạch, đầm, sông hơn 60 chỗ để làm nơi phóng sanh. Ngài dâng biểu lên triều đình ra bảng nghiêm cấm việc bắt cá, chim... Thật là, mọi người đều quy ngưỡng, Long Thiên đều kính trọng, tông Pháp Hoa từ đó rất thịnh hành. Tấn Vương thọ giới Bồ Tát với ngài, rồi phụng hiệu là Trí Giả.

Ngài có trứ tác bộ “Tịnh Độ Thập Nghi Luận”, ở chương cuối nói về hai nghĩa Hân và Yểm : Người muốn được sanh Cực Lạc thế giới nếu đủ cả hai hạnh sau đây thời chắc chắn vãng sanh.

A.- Hạnh nhàm lìa trược ác

B.- Hạnh ưa thích Tịnh Độ

A.- Hàng phàm phu từ vô thỉ tới nay, bị cảnh ngũ dục lôi kéo nên luân hồi mãi trong vòng sanh tử chịu đủ điều khốn khổ, nếu không sanh lòng nhàm lìa vật dục thời không sao giải thoát được. Nên thường quan sát thân người là một bọc máu mủ phẩn dãi, đủ thứ hôi thối dơ dáy. Kinh Niết Bàn nói : “Cái thân này như thế, giống quỷ dữ ngu si thường ở luôn trong đó. Có ai là người trí mà lại ưa thích nó...”. Kinh lại nói : “Thân này là chỗ họp của mọi điều khốn khổ, toàn thể đều dơ thối, là cội gốc của tai hại. Nhẫn đến thân thể của chư Thiên cũng đều như vậy cả”.

Người tu hành, ngày đêm thường quán sát thân thể là khổ, là dơ, không chút chi vui, không một mảy sạch, lòng rất nhờm gớm. Nếu người ở nơi sự dâm dục chưa đoạn hẳn được phải quán sát bảy cách như vầy :

1.- Xét nghĩ thân dâm dục này là từ nơi vọng niệm tham ái mà sanh, đó là chủng tử nhơ nhớp.

2.- Do tinh cha huyết mẹ hiệp lại mà thành, đó là thọ sanh nhơ nhớp.

3.- Nhiều tháng ở trong tử cung của đàn bà, đó là chỗ ở nhơ nhớp.

4.- Lúc ở trong thai chỉ ăn huyết của mẹ, đó là ăn đồ nhơ nhớp.

5.- Khi đủ ngày từ nơi cửa mình của đàn bà mà chui ra, đó là lúc sanh nhơ nhớp.

6.- Xem kỹ thân này, dưới lớp da mỏng chỗ nào cũng là những máu mủ đồ dơ, đó là toàn thể nhơ nhớp.

7.- Sau khi chết, thân này sẽ sình rã thối hôi, đó là rốt ráo nhơ nhớp.

Xem xét thân mình cực kỳ nhơ nhớp như thế, thời xét nghĩ thân người khác cũng như vậy. Nếu có thể thường có quan niệm nhơ nhớp như trên, thời vọng niệm dâm dục lần lần yếu bớt. Và nên phát nguyện : Nguyện tôi mau thoát khỏi tấm thân máu mủ nhớp nhúa trong vòng sanh tử khốn khổ này, mà được thân kim cương thanh tịnh an vui nơi Tịnh Độ.

B.- Hạnh ưa muốn Tịnh Độ có hai điều :

I.- Ý nghĩa cầu vãng sanh : Người cầu sanh Tịnh Độ chính vì để cứu vớt tất cả chúng sanh. Tự xét như vầy : “Tôi hiện nay không có đạo lực tự tại, nếu ở nơi cõi trược ác này thời cảnh nhiễm ô quá mạnh, tự mình phải bị nghiệp chướng ràng buộc xoay lăn trong lục đạo luân hồi nhiều đời nhiều kiếp như thời gian quá khứ, biết lúc nào thoát khỏi, làm sao cứu khổ cho chúng sanh được ! Vì vậy nên tôi cầu sanh về Tịnh Độ để được gần gũi bên Phật, sau khi chứng Vô sanh Pháp nhẫn rồi mới kham vào cõi trược ác hóa độ mọi loài”. Vãng Sanh Luận nói : “Người phát Bồ-đề tâm chính là tâm muốn thành Phật, tâm muốn thành Phật chính là tâm muốn độ sanh, tâm muốn độ sanh là tâm mong nhiếp lấy chúng sanh sanh về cõi Phật...”. Bồ-đề tâm này do đâu mà thành tựu ? Cần phải do sanh về Tịnh Độ, ở gần bên Phật mau chứng Vô sanh nhẫn rồi vào cõi sanh tử cứu độ chúng sanh, trí và bi gồm đủ, tự tại vô ngại, chính đó là tâm Bồ-đề.

II.- Tu trì tịnh nghiệp : Người có lòng ưa muốn về Tịnh Độ nên tưởng nhớ thân tướng của Đức Phật A Di Đà : 84.000 tướng tốt, mỗi tướng tốt có 84.000 tùy hình hảo, mỗi tùy hình hảo phóng ra 84.000 tia sáng chiếu khắp pháp giới nhiếp lấy những chúng sanh niệm Phật. Lại quan sát cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm như trong Quán Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh v.v... Nên thường tu “Niệm Phật Tam muội” và thực hành những điều lành như : lễ Phật, tụng kinh, cúng dường, sám hối, trì giới, bố thí, phóng sanh v.v... luôn luôn đều hồi hướng cầu được sanh về Cực Lạc thế giới. Được như vậy thời quyết định vãng sanh...

Cơ duyên giáo hóa đã mãn, Đại sư qua chùa Thạch Thành ở Việm Đông nói với đệ tử rằng : “Tôi sẽ từ giã cõi đời tại chùa này !”. Ngài bảo kê giường hướng về Tây phương rồi chuyên niệm A Di Đà Phật với Bát Nhã và Quan Thế Âm. Ngài lại bảo thị giả thắp hương đèn, ngài xướng to đề Vô Lượng Thọ Kinh và Quán Vô Lượng Thọ Kinh. Xướng đề Kinh xong, ngài tán thán rằng : “Bốn mươi tám nguyện trang nghiêm Tịnh Độ, ao sen đài báu dễ đến mà không người. Kẻ ác, tướng địa ngục đã hiện, ăn năn niệm Phật còn đặng vãng sanh, huống là người giới huệ huân tu Thánh hạnh, quyết chắc công phu không luống uổng vậy”. Các đệ tử thưa rằng : “Chẳng biết Đại sư chứng bậïc nào ? Sau khi bỏ thân này sẽ sanh về đâu ?”. Ngài đáp : “Nếu ta không bận việc chung, tất được bậc “lục căn thanh tịnh”, vì tổn mình lợi người nên chỉ được bậc “ngũ phẩm”([4]). Các thầy bạn của ta hiện theo đức Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đồng đến rước ta”. Dứt lời, Đại sư ngồi kiết già mà tịch, an nhiên như nhập thiền định. Thọ 67 tuổi. Bấy giờ là ngày 24 tháng 11, năm Khai Hoàng thứ 17, triều Tùy.

Ông Thích Huệ Diên ở chùa Thiên Hương hay tin Đại sư viên tịch, buồn nhớ lắm. Ông muốn biết Đại sư hiện ở đâu, mới phát nguyện tả Kinh Pháp Hoa để cầu minh ứng. Đêm đến, ông Diên mơ thấy Trí Giả Đại sư ngồi tòa sen báu theo sau đức Quan Thế Âm, từ phương Tây bay đến, ngó ông mà bảo rằng : “Ông đã hết nghi ngờ chưa ?”.

Ngoài ra Đại sư hiện rất nhiều việc linh cảm tương tợ như việc trên đây.

Trích ở những bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ, Tịnh Độ Thập Nghi Luận

LỜI PHỤ.- Trí Giả Đại sư, Sơ Tổ của Pháp Hoa tông, người thủ truyền viên chỉ “nhứt tâm tam quán, nhứt niệm cụ vạn hạnh”. Đại sư thân chứng Pháp Hoa Tam muội, hoằng truyền tông chỉ Pháp Hoa, lấy Tịnh độ làm quy túc, và chính Đại sư vãng sanh Cực Lạc. Vì thế nên các bậc tôn túc trong tông Pháp Hoa noi gương Đại sư, cực lực hoằng truyền Tịnh độ, phổ khuyến chúng sanh đồng tu niệm Phật, đồng sanh Cực Lạc.

II - ĐÀM LOAN

Đàm Loan Pháp sư, người Nhạn Môn, thuở niên thiếu đi viếng núi Ngũ Đài, được thấy nhiều cảnh linh dị, phát lòng tin mà xuất gia. Đọc Kinh Đại Tập thấy lời cùng ý đều thâm mật, ngài mới ra công chú thích. Vừa được nửa bộ, ngài mang bệnh nặng, thuốc men đủ cả mới được lành. Ngài tự than rằng : “Mạng người mỏng manh chết mất trong sớm tối ! Tôi nghe các vị Tiên trường sanh thường có nơi thế gian. Trước luyện thuật trường sanh, sau tu học Phật pháp cũng được như vậy !”. Ngài qua Giang Nam khẩn cầu tiên thuật nơi ông Đào Ẩn Cư, một nhà tu tiên chánh truyền. Ông Đào truyền cho mười quyển kinh Tiên, ngài hớn hở mang về, cho rằng Thần Tiên có thể thành. Đến Lạc Dương gặp Tam Tạng Pháp sư Bồ Đề Lưu Chi, ngài bạch hỏi : “Trong Phật giáo có phương pháp trường sanh bất tử hơn kinh Tiên này chăng ?”. Tam Tạng Pháp sư đáp : “Xứ này làm gì có pháp trường sanh bất tử ! Tu Tiên dầu được sống lâu, nhưng rồi cũng phải luân hồi, đâu đủ quý báu. Về trường sanh bất tử chỉ trong Phật pháp ta có thôi !”. Pháp sư trao cho ngài quyển Quán Kinh mà bảo rằng : “Tu học theo đây thời không còn sanh vào chốn luân hồi sanh tử nữa, tất cả họa phước thạnh suy đều không chi phối được. Luận về sự sống lâu, hằng hà sa kiếp số cũng không sánh kịp. Đây là pháp trường sanh rốt ráo của nhà Phật ta đấy !”. Ngài Đàm Loan mừng lắm, bèn đốt kinh Tiên mà chuyên tu tịnh nghiệp, ngài đem chỗ tự tu giáo hóa mọi người rất được rộng lớn. Ngài soạn 12 bài kệ lễ Tịnh Độ nối theo kệ của Long Thọ Bồ Tát([5]), ngài có trứ tác bộ “An Lạc Tập” 2 quyển, lưu truyền trong đời. Vua triều Ngụy rất trọng kính ngài, phụng hiệu là “Thần Loan Pháp sư”, và thỉnh ngài trụ trì chùa Đại Tự ở Tinh Châu. Về sau ngài qua trụ chùa Huyền Trung ở Vân Châu.

Năm Hòa Hưng thứ 4, đêm nọ, có một vị Thánh Tăng hiện ra nói với ngài rằng : “Tôi là Long Thọ đây. Tôi về Tịnh Độ đã lâu, vì ông đồng chí nên tôi đến thăm”.

Ngài biết trước giờ viên tịch, vân tập đại chúng lại mà bảo rằng : “Sống chết nhọc nhằn biết ngày nào dứt. Sứ thống khổ trong tam đồ phải biết lo sợ, chín phẩm Tịnh nghiệp phải gắng siêng tu !”. Rồi ngài bảo hàng đệ tử to tiếng niệm Phật, còn ngài thời xoay mặt về hướng Tây rập đầu cúi lạy mà tịch. Lúc đó, tất cả người tại chùa đồng thấy tràng phan, bảo cái từ phía Tây bay đến, khắp trời vang tiếng nhạc du dương lâu lắm mới dứt.

Triều đình được tin, truyền xây tháp dựng bia ở Văn Cố (Sơn Tây).

Trích ở các bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Lạc Ban Văn Loại

LỜI PHỤ.- Thiên Tiên được sống lâu nên được tạm gọi là trường sanh, còn gọi là bất tử thời không phải, vì tiên vẫn là phàm phu trong vòng sanh tử luân hồi trong tam giới([6]). Vả lại người tu Tiên rất chướng ngại đạo giải thoát. Vì luân hồi gốc nơi “ngã chấp”, ngã chấp từ nơi mến thân mà có, nên trên đạo giải thoát bắt đầu từ quan niệm nhàm thân, có nhàm thân mới có hết ngã chấp, ngã chấp hết mới thoát khỏi luân hồi. Do đây nên trong Phật pháp rất chú trọng đến các vấn đề : quán thân nhơ nhớp, là gốc khổ, là vô thường, là không tự thể... Người tu Tiên trái ngược lại, rất mến thân, nên những cách tu luyện của họ cốt yếu là giữ thân máu thịt này cho trường tồn, mến thân là ngã chấp và ngã sở, đó là kiên cố cội gốc sanh tử luân hồi.

Thần Loan Pháp sư nghe một lời khai thị liền đốt bỏ kinh Tiên mà chuyên tu Phật đạo, phải chăng là túc căn tham hậu khiến nên, hay là do chánh trí của ngài thấu tỏ !

III - ĐẠO XƯỚC

Đạo Xước Thiền sư họ Vệ, người Tinh Châu, năm 14 tuổi, ngài xuất gia học tập Kinh luận. Ngài theo học thiền với Toản Thiền sư. Về sau ngài trụ trì chùa Huyền Trung ở Văn Thủy, ngôi chùa của Đàm Loan Pháp sư khai sơn. Ngài ham mộ hạnh Tịnh độ của Đàm Loan Pháp sư nên chuyên tu Tịnh nghiệp : ngồi thường xoay mặt về hướng Tây, sáu thời lễ Phật, tâm tưởng không rời Tịnh độ, ngày đêm niệm Phật bảy vạn câu.

Có một Sư Tăng nhập định xuất thần du Tịnh Độ, thấy Đạo Xước Thiền sư ngồi tay cầm chuỗi, thân to lớn tỏa ánh sáng như một tòa núi vàng. Ngoài ra còn rất nhiều thoại ứng khác kể không xiết.

Ngài giảng dạy Quán Kinh và Vô Lượng Thọ Kinh gần 200 bận. Thính giả gồm cả Tăng và tục, tay đều cầm chuỗi miệng niệm Phật như tiếng sóng biển. Mỗi khi giảng Kinh xong, lúc giải tán, tiếng niệm Phật vang cả rừng, cả đường.

Ngài có trứ tác bộ Tịnh Độ Luận hai quyển, lời cùng nghĩa đều thiết yếu, người thời ấy rất trọng.

Năm Trinh Quán thứ 2 nhà Đường, giữa lúc giảng Kinh, cả chúng đều thấy Đàm Loan Pháp sư ngồi trên tòa thất bảo gọi Đạo Xước Thiền sư mà nói rằng : “Đền báu của ông ở Tịnh Độ đã hoàn thành, chỉ còn thân thừa chưa mãn đấy thôi !”. Đồng thời mọi người thấy Hóa Phật ngự trên hư không, thiên hoa rưới xuống. Cả chúng đều hân ngưỡng và khen lạ.

Từ ngày ấy trở đi, sự hoằng hóa của Thiền sư càng phấn chấn hơn. Tăng và tục ở bốn phương về quy kính mỗi ngày thêm đông. Năm 82 tuổi, ngài viên tịch.

Bấy giờ Thượng tọa Thích Đạo Phủ, bạn thân của Thiền sư, được tin Thiền sư đã viên tịch, bèn nói với mọi người rằng : “Tôi thường hẹn sẽ về Tịnh Độ trước ông, không ngờ nay lại trễ sau. Tôi chỉ gia công thêm một hơi thời theo kịp ông”. Nói xong Thượng tọa liền nghiêm chỉnh y áo, đến trước tượng Phật kính lễ rồi đoan tọa mà tịch.

Trích ở các bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

IV - TĂNG HUYỀN

Tăng Huyền Hòa thượng, người Tinh Châu, Hòa thượng thâm đạt Thiền tông, thông giáo lý, giải cùng hạnh đều trọn đủ. Năm 96 tuổi, thấy Đạo Xước Thiền sư giảng Quán Kinh cùng trứ tác Tịnh Độ Luận, Hòa thượng mới hồi tâm lo niệm Phật. Sợ rằng tuổi đã quá già sống không còn bao lâu, nên Hòa thượng tu Tịnh nghiệp rất chuyên cần : mỗi ngày lễ Phật một nghìn lạy, niệm Phật chín vạn câu, luôn như vậy trọn 5 năm không một ngày thiếu trễ.

Một hôm nhuốm bệnh nhẹ, Hòa thượng hội đệ tử lại mà bảo rằng : “Đức A Di Đà Phật trao cho ta chiếc áo thơm đẹp, Quan Thế Âm và Đại Thế Chí cùng Thánh chúng đều đứng trước ta, vô số Hóa Phật chật cả hư không. Ai nấy ở lại gắng tu. Ta xin đi !”. Dứt lời, Hòa thượng liền tịch. Mùi thơm lạ ngào ngạt trọn bảy ngày mà chưa tan.

Bấy giờ có Khải Phương Pháp sư và Viên Quả Pháp sư mục kích Hòa thượng vãng sanh. Hai người đồng phát tâm cầu sanh Tịnh Độ. Đồng nhau đến chùa Ngộ Chơn kiết thất ba tháng chuyên niệm A Di Đà Phật. Hai Pháp sư cùng bẻ một nhánh dương tươi, đem để trong tay tượng đức Quan Thế Âm, rồi đồng vái rằng : “Nếu chúng tôi sẽ được vãng sanh Cực Lạc, nguyện nhánh dương này không héo”. Qua sau bảy ngày, nhánh dương ấy càng xanh tươi hơn. Hai Pháp sư rất mừng, ngày đêm niệm Phật không ngớt. Năm tháng sau, một hôm đương lúc tịnh tọa, hai Pháp sư tự thấy mình đến ao báu, thấy đức Quan Thế Âm cùng Đại Thế Chí ngồi trên hai hoa sen lớn đẹp sáng. Kế thấy Đức A Di Đà từ phía Tây đi đến rồi ngự trên một hoa sen lớn nhứt, thân Phật tỏa ánh sáng rực rỡ. Hai Pháp sư lễ Phật rồi bạch rằng : “Chúng sanh ở Ta Bà y theo lời dạy trong Kinh mà niệm Phật, không rõ có được sanh về đây chăng ?”. Phật dạy : “Đừng nghi ! Quyết định sanh về cõi nước của Ta”. Hai Pháp sư lại nghe văng vẳng tiếng của Thích Ca Mâu Ni Phật cùng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tán thán Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trên thềm báu thấy có rất đông người, bảo là người ở Ta Bà niệm Phật mà được sanh về vậy.

Sau khi xuất định, Khải Phương, Viên Quả hai Pháp sư thuật lại với hàng đệ tử của các ngài.

Trích ở bộ : Tống Cao Tăng Truyện

V - KHẢ CỬU

Sư Khả Cửu người Minh Châu, chuyên tụng Kinh Pháp Hoa cầu sanh Cực Lạc. Người thời ấy gọi Sư là Cửu Pháp Hoa.

Năm Nguyên Hựu triều Tống, Sư đoan tọa mà tịch, thọ 81 tuổi. Ba ngày sau, Sư sống lại bảo người rằng : “Tôi đến Tịnh Độ thấy cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh đúng như trong Kinh đã thuật. Người ở đây tu tịnh nghiệp trên đài hoa đã nêu tên sẵn. Tôi thấy một kim đài nêu tên Huân Công ở Quảng Giáo viện tại Thành Đô, một kim đài nêu tên Tôn Thập Nhị Lang ở Minh Châu (ông Tôn Trung), một kim đài nêu tên Khả Cửu, một ngân đài nêu tên Từ Đạo Cô ở Minh Châu”. Dứt lời Sư liền nhắm mắt. Năm năm sau, Từ Đạo Cô mất mùi hương lạ thơm ngát cả nhà. 12 năm sau ông Tôn Trung vãng sanh, thiên nhạc đến rước. Lời của Sư Khả Cửu đều nghiệm.

Trích trong bộ Tịnh Độ Văn

V B - HAI SA DI

Ở Văn Châu có hai ông Sa di đồng niệm Phật được năm năm. Một hôm ông lớn chết, thần thức đến Tịnh Độ lễ Phật mà bạch rằng : “Con còn một người bạn đồng tu, chẳng biết rồi được sanh về đây chăng ?”. Phật dạy : “Lúc trước, nhờ ông Sa di nhỏ ấy khuyên ông, nên ông mới phát tâm niệm Phật. Nay ông trở về gắng tu tịnh nghiệp thêm. Ba năm sau hai người sẽ đồng đến nơi đây”.

Ông Sa di lớn sống lại thuật chuyện gặp Phật với ông Sa di nhỏ và mọi người. Từ đó hai ông càng chuyên cần tu niệm.

Ba năm sau, cả hai ông đồng thấy Phật và Thánh chúng từ phương Tây đến. Khắp đại địa rung động, hoa trời bay rưới. Hai ông đồng thời vãng sanh.

Trích trong bộ Phật Tổ Thống Kỷ

LỜI PHỤ.- Đại Thế Chí Bồ Tát nói : “Tưởng Phật niệm Phật, hiện tiền và tương lai quyết định thấy Phật”. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát cũng từng bảo : “Nếu người chuyên niệm Phật được nhứt tâm, hiện tiền cũng thấy Phật”. Việc thấy Phật và được Phật dạy của hai Pháp sư, hai Sa di chính là minh chứng.

Luôn nhớ Phật đó là Phật tâm, thấy Phật đó là Phật cảnh. Phật cảnh tùy Phật tâm mà hiện. Tâm và cảnh vốn không hai, cảm ứng đạo giao duy tâm tự hiện. Muốn thấy Phật cảnh phải do Phật tâm, muốn thành Phật tâm phải chuyên niệm Phật.

VI - QUÁN ĐẢNH

Quán Đảnh Đại sư họ Ngô, người Lâm Hải. Vừa sanh được ba tháng, ngài đã xưng được Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo. Năm lên bảy tuổi, ngài xuất gia ở chùa Nhiếp Tịnh.

Năm Chí Đức triều Trần, ngài bẩm thọ pháp môn Chỉ quán với Trí Giả Đại sư tại chùa Tu Thiền, tu tập ít lâu liền được Trí Giả Đại sư ấn khả, bèn theo làm Thị giả. Phàm khi nghe giảng Kinh pháp nào, ngài đều thông thuộc tất cả.

Sau khi Trí Giả Đại sư viên tịch, ngài tuyên dương giáo pháp Thiên Thai tông và siêng tu định huệ. Mỗi khi ngài đoan tọa tụng Kinh, thường có thiên hoa bay rớt bên mình ngài. Một hôm đương lúc ngài giảng Kinh Niết Bàn tại chùa Nhiếp Tịnh, có giặc cướp kéo đến toan đánh cướp chùa. Cửa chùa bỗng hiện cờ xí rợp đất và vô số thần binh mình cao hơn trượng. Giặc cướp kinh hãi tan chạy.

Năm Trinh Quán thứ 6, ngày mùng 7 tháng Tám, trong thất của ngài có mùi hương lạ, ngài kêu các đệ tử đến mà bảo rằng : “Tôi sắp vãng sanh !”. Ngài bỗng đứng dậy chắp tay cung kính như có Phật, Bồ Tát đến, miệng thời niệm to Nam mô A Di Đà Phật ba lần, nét mặt hớn hở, ngài lên giường nằm xoay mặt về hướng Tây mà tịch. Thọ 72 tuổi. Cả ngày đỉnh đầu vẫn ấm luôn.

Trích ở bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

VII - PHÁP TRÍ

Pháp Trí Đại sư, đồng niên xuất gia, các nơi khai giảng Kinh luận ngài đều đến tham học. Về sau nghe pháp môn thành Phật mau tắt không môn nào qua môn niệm Phật, ngài nói với người rằng : “Tôi thấy Kinh nói phạm một kiết-la (tội nhỏ) phải đọa địa ngục một trung kiếp, thời tôi tin. Tôi lại thấy Kinh nói chí tâm xưng niệm A Di Đà Phật một câu diệt được tám mươi ức kiếp tội lớn, thời tôi chưa tin được”. Có một Tôn túc quở rằng : “Ông là đại tà kiến, đều là lời Phật cả sao lại chẳng tin !”. Một câu khai thị ấy rửa sạch lòng nghi của Đại sư, ngài đến đài Đâu Suất tại chùa Quốc Thanh ngày đêm tinh tấn niệm Phật, cảm Quan Thế Âm và Đại Thế Chí hai vị Bồ Tát hiện thân. Một hôm khác lại cảm thiên quan của đức Quan Thế Âm và bửu bình của đức Đại Thế Chí phóng quang chiếu đến thân ngài.

Một ngày kia, Đại sư từ giã đại chúng rằng : “Tôi sắp sửa vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, quý vị lấy gì để tiễn biệt tôi !”. Đại chúng Tăng và tục hẹn ba ngày sau họp tại chùa làm tiệc chay để đưa Đại sư. Đến kỳ, sau khi thọ trai xong, nhiều người ở lại chùa để chờ xem. Đến nửa đêm, Đại sư ngồi kiết già trên giường niệm Phật an nhiên mà tịch. Lúc đó ánh sáng màu huỳnh kim từ phương Tây xẹt đến chiếu sáng cả trăm dặm. Người ở những thuyền đậu trên sông đều ngỡ là trời sáng, nào ngờ lúc đó mới vừa quá nửa đêm. Do điềm sáng ấy, mọi người đều công nhận Đại sư thật được vãng sanh.

Trích ở những bộ : Tống Cao Tăng Truyện,

Lạc Ban Văn Loại

VIII - TRÍ DIỆM

Trí Diệm Pháp sư họ Châu tự Minh Sáng, người Ngô Quận. Năm lên tám, ngài xuất gia làm đệ tử của Cứ Pháp sư ở chùa Thông Nguyên. Ngài đi tham học khắp các nơi rồi rộng truyền Kinh luận. Nhà Trần mất, ngài về Hổ Khưu ở tọa thiền 30 năm([7]). Sau vì nạn chiến tranh nên lại phải di cư.

Năm Võ Đức thứ 7, nhà Đường, quan Tổng quản Tô Châu, ông Lý Thế Gia, rước ngài về Hổ Khưu. Từ đây ngài chuyên tu tịnh nghiệp. Mỗi tháng họp những pháp lữ đồng chí hơn 500 người đến chùa niệm Phật, luôn hơn 10 năm không sai sót. Tháng 10, năm Trinh Quán thứ 8, ngài thoạt thấy một Thánh Tăng tay cầm cái bình báu sáng chói đến trước ngài mà nói rằng : “Tôi là Vô Biên Quang. Ngày sau ở Tịnh Độ gọi là Công Đức Bửu Vương, chính là tôi đấy !”. Sau khi Thánh Tăng biến đi, ngài bảo đại chúng rằng : “Vô Biên Quang là Đại Thế Chí Bồ Tát, còn Công Đức Bửu Vương là Phật hiệu của Ngài ở tương lai. Duyên Tịnh Độ đã thục, tôi sẽ về Tây phương !”. Đến tối ngài ngồi kiết già mà tịch thọ 71 tuổi([8]).

Trích ở các bộ : Phật Tổ Thống Kỷ

Hổ Khưu Chí

IX - ĐẲNG QUÁN

Đẳng Quán Thiền sư họ Tôn, người Phú Dương. Ngài bẩm thọ pháp môn tâm quán với Trí Giả Đại sư, rồi ở Thiên Thai tu thiền quán và thường tụng Kinh Pháp Hoa. Mùa Đông năm Trinh Quán thứ 9, chùa Pháp Nhẫn ở Dư Hàng thỉnh ngài giảng Kinh. Mùng một tháng Giêng năm sau, có người mặc sắc phục nhà vua đến chùa bạch cùng ngài : “Đệ tử là thần miếu Kiểu Đình. Tháng trước Sư đi ngang qua miếu, nhằm lúc đệ tử mắc đi tuần du nên không dịp tiếp rước. Hôm nay đệ tử đến đây để cầu giới pháp”. Ngài bèn lên hương đèn mà truyền giới Bồ Tát cho Thần. Thọ giới xong, Thần lễ tạ mà lui về. Qua giữa nửa đêm sau, ngài tắm rửa thay áo, ngồi kiết già xoay mặt về hướng Tây, to tiếng niệm Tây phương Tam Thánh và hiệu của Trí Giả Đại sư. Đại chúng họp đến vây quanh, ngài giảng rành rẽ pháp nhứt tâm tam quán. Giảng xong, ngài vẫn ngồi yên tại chỗ mà tịch.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

X - ĐỨC MỸ

Đức Mỹ Đại sư, họ Vương, người Thanh Hà, xuất gia năm 16 tuổi, nghiêm trì giới luật, mỗi ngày chuyên cần lễ sám. Ngài thường tụng Kinh “Vạn Ngũ Thiên Phật Danh”. Năm Đại Nghiệp, ngài trụ chùa Huệ Linh ở Kinh Sư, tổ chức những việc phước thiện, được rất nhiều sự cảm ứng.

Năm Võ Đức, ngài về ở chùa Hội Xương, lập Sám Hối đường ở phía Tây chùa để làm chỗ tu “Bát chu Tam muội”, trọn một hạ không ngồi([9]).

Có lúc vì ngăn sự lỗi nơi miệng, nên cả ba năm ngài không nói chuyện. Có lúc thực hành hạnh Bất Khinh([10]), ngài kính lễ cả bảy chúng. Ngài đoạn tuyệt việc đời, chuyên tưởng Cực Lạc, chấp trì Phật hiệu trọn đời không hở.

Tháng Chạp năm Trinh Quán thứ 11, một hôm ngài mời đại chúng họp lại, dặn dò mọi người tinh tấn niệm Phật tu trì. Dặn xong, ngài chắp tay xướng hồng danh của Phật mà tịch, thọ 63 tuổi.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

B 1 - CHƯ SƯ NI

 I - HUỆ MỘC

Sư Ni Huệ Mộc họ Phó, năm 11 tuổi xuất gia ở chùa tại Tương Quận. Mỗi ngày cô tụng Kinh Đại Phẩm Bát Nhã, thường thấy hiện rất nhiều sự linh dị, Ni cô từng mơ đến Tây phương, thấy trong ao báu có nhiều hoa sen đẹp sáng chói, những người vãng sanh đều ngồi trên hoa. Ít lúc sau cô thỉnh thầy thọ giới Cụ túc. Lúc đương ở giới đàn, cô bỗng thấy trời đất biến thành màu huỳnh kim.

Một hôm, cô cùng chúng lễ A Di Đà Phật, cô mọp nơi đất rất lâu không trỗi dậy. Người đứng gần đạp cô mà hỏi. Cô đáp : “Đương lúc mọp lạy, tự thấy mình đến Cực Lạc thế giới, Đức Phật giảng Tiểu Phẩm Bát Nhã cho tôi nghe, vừa nghe được bốn quyển thời bị đạp mà tỉnh dậy. Tôi lấy làm tiếc quá !”.

Năm Nguyên Gia thứ 14, triều Lưu Tống. Sư Ni Huệ Mộc vãng sanh có nhiều điềm tốt, thọ 69 tuổi.

Trích ở bộ Pháp Uyển Châu Lâm

II - PHÁP THẠNH

Ni Sư Pháp Thạnh họ Nhiếp, người Thanh Hà. Năm 70 tuổi xuất gia tại chùa Kiến Phước ở Kim Lăng. Cô bẩm tánh rất thông minh, từng nói với các pháp hữu Đàm Kỉnh, Đàm Ái rằng : “Tôi lập thân hành đạo, chỉ quyết về Tây phương Cực Lạc thế giới mà thôi”.

Năm Nguyên Gia thứ 16, ngày 27 tháng Chín, Ni cô đến dưới tháp lễ Phật, chiều ngày ấy nhuốm bệnh. Đến đêm 30 tháng Chín, cả chùa trong ngoài bỗng sáng rực như ban ngày. Ni cô bảo : “Đó là Đức A Di Đà Phật cùng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đến, nên sáng như vậy…” Dứt lời Ni cô yên lặng. Chúng lại gần xem, thì ra cô đã đi rồi. Thọ 72 tuổi, cô xuất gia mới được 2 năm.

Trích ở bộ Tỳ Kheo Ni Truyện

III - TỊNH CHƠN

Sư Ni Tịnh Chơn người thời nhà Đường, ở chùa Tích Thiện tại Trường An, nạp y không rời thân, luôn đi khất thực. Trọn đời cô tụng Kinh Kim Cang được mười vạn quyển. Hằng ngày cô rất siêng niệm Phật. Một hôm cô bảo các đệ tử rằng : “Trong năm tháng gần đây, tôi mười lần thấy Phật, hai lần thấy Thiên đồng chơi giỡn trên hoa sen báu. Tôi được vãng sanh bậc Thượng phẩm”. Nói xong, cô ngồi kiết già chắp tay mà tịch. Lúc ấy ánh sáng đẹp mát tỏa sáng cả chùa rất lâu mới ẩn.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

IV - PHÁP TẠNG

Sư Ni Pháp Tạng, người thời nhà Đường, ngụ ở Kim Lăng, ngày đêm siêng năng niệm Phật. Một đêm nọ, thấy quang minh của Phật và Bồ Tát chiếu sáng cả chùa, Sư Ni chắp tay yên lặng mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

C 1 - CHƯ TÍN SĨ

I - BẢY VẠN NGƯỜI HỌ THÍCH

Thuở Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở tại khu rừng Ni Cư Đà trong nước Ca Tỳ La. Một hôm Đức Bổn Sư phái ngài Ca Lưu Đà Di qua giáo hóa Phụ vương, vua Tịnh Phạn. Ngài Ca Lưu Đà Di liền vận thần thông, ngồi kiết già bay trên hư không mà thẳng đến thành Ca Tỳ La, rồi giảng nói công đức của Phật cho Tịnh Phạn Vương nghe. Vua phát lòng kính tin, bèn dắt người trong họ Thích đến rừng lễ Phật.

Đức Phật giảng rộng nghĩa “Tam giải thoát môn”([11]) cho vua cha và người dòng Thích. Đức Phật lại dạy : “Tất cả pháp đều là Phật pháp”. Vua gạn : “Nếu tất cả pháp đều là Phật pháp, thời lẽ ra tất cả chúng sanh cũng đều là Phật cả”. Đức Phật giảng : “Nếu ở nơi chúng sanh mà không điên đảo nhận thấy đó chính là “Phật”. Gọi “Phật” tức là nhận thấy chúng sanh đúng như thật. Nhận thấy chúng sanh đúng như thật tức là thấy “Thật tế”([12]). Thật tế chính là “pháp giới”. Tất cả pháp vốn vô sanh, đây là môn Đà-la-ni. Nên để tâm nơi pháp vô sanh này, đừng tin nơi khác !”.

Bấy giờ vua Tịnh Phạn và bảy vạn người họ Thích nghe Phật giảng dạy, đều tỏ ngộ chứng Vô sanh Pháp nhẫn. Đức Phật mỉm cười mà bảo rằng : “Người họ Thích có trí quyết định nên ở trong Phật pháp được mau an trụ vững vàng. Sau khi mãn thân người này, sẽ đặng vãng sanh Cực Lạc thế giới, hầu gần bên Phật A Di Đà, sớm thành tựu Vô thượng Bồ-đề”.

Trích Kinh Bảo Tích

II - SAI MA KIỆT

Trong thành Ca Tỳ La Vệ có ông Trưởng giả tử Sai Ma Kiệt đến lễ Phật mà bạch rằng : “Bồ Tát thực hành hạnh gì mà mau chứng quả Vô thượng Chánh giác, đủ các tướng hảo v.v… ?”. Đức Phật vì ông mà giảng những hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục… và sau cùng Đức Phật kết luận vô ngã, vô nhơn, như huyễn hóa. Nghe Phật giảng xong, ông Sai Ma Kiệt liền chứng đặng Vô sanh Pháp nhẫn. Trong pháp hội, 500 vị Tỳ kheo, 500 thanh tín sĩ và 500 thanh tín nữ đồng chứng bất thoái chuyển địa. Đức Phật thọ ký cho tất cả những người trên, khi mạng chung sẽ sanh về cõi nước thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật ở Tây phương, sẽ thường hộ trì vô lượng Phật pháp, giáo hóa thành tựu vô số nhân dân làm cho đều được bậc bất thoái. Tu hành như vậy đến vô lượng hằng hà sa số kiếp về sau, sẽ ở nơi cõi này, theo thứ tự nối nhau mà thành Phật.

Trích trong Bồ Tát Sanh Địa Kinh

III - Ô TRÀNH QUỐC VƯƠNG

Ô Trành Quốc vương rất mến Phật pháp. Một hôm Vương bảo các quan rằng : “Trẫm dầu ở ngôi vua hưởng phước, nhưng rồi cũng chẳng trốn khỏi số vô thường. Nghe Kinh nói cõi Tây phương Cực Lạc là nơi giải thoát, trẫm phải phát nguyện cầu sanh về cõi ấy !”. Từ đó, ngày đêm sáu thời, nhà vua hành đạo niệm Phật. Thường khi trai Tăng, nhà vua cùng hoàng hậu đích thân dâng cơm nước cúng dường. Nhà vua tinh tấn tu hành như vậy ngót ba mươi năm. Đến lúc lâm chung, dung sắc nhà vua vui tươi và hiện rất nhiều điềm tốt.

Trích ở Vãng Sanh Tập

IV - LƯU TRÌNH CHI

Ông Lưu Trình Chi tự Trọng Tư, người Bành Thành. Cha khuất sớm, ông thờ mẹ rất hiếu, học thông kinh sử, rất giỏi về học thuyết Lão, Trang. Ông làm quan Tham quân nơi Bành Thành, vì tánh không thích chiều theo thời tục, mặc dầu các công khanh nhiều phen tiến dẫn về triều, ông đều cố từ.

Bấy giờ, Huệ Viễn Đại sư ở Lô Sơn tu niệm Phật Tam muội, ông nghe tiếng, đến Lô Sơn xin theo tu học. Đại sư hỏi : “Quan cao tước lớn sao lại bỏ đi ?”. Ông thưa : “Triều nhà Tấn không vững, quan to thời nhiều nạn, vả lại vô thường không định, đường sanh tử phải lo, nên tôi bỏ việc tục mà cầu đạo pháp !”.

Lưu Dũ một danh nhơn thời ấy, tặng ông Lưu Trình Chi đức hiệu là Di Dân, để tiêu biểu tâm chí của ông Chi.

Đồng thời lại có các nhà danh sĩ thạc đức, như quý ông : Tông Xát, Lôi Thứ Tông, Châu Tục Chi, Trượng Dã, Trương Thuyên, Tất Tần Chi, v.v… cùng rất đông Cao Tăng Đại đức đồng đến Lô Sơn. Huệ Viễn Đại sư lãnh đạo tất cả mọi người đến trước tượng Tây phương Tam Thánh đồng lập thệ nguyện cùng tu tịnh nghiệp. Đó là hội niệm Phật đầu tiên ở miền Đông vậy.

Tuân lời Huệ Viễn Đại sư, ông Trình Chi soạn bài văn lập thệ đồng tu Tịnh độ, đồng sanh Cực Lạc, đồng mong thành Phật, đồng độ chúng sanh mà chạm vào bia đá.

Ít lâu sau, ông Trình Chi qua bên khe phía Bắc Tây Lâm, cất riêng một tịnh thất để làm chỗ thiền quán niệm Phật. Ở thất được nửa năm, trong lúc nhập định, ông thấy quang minh của Đức Phật A Di Đà chiếu sáng mặt đất thành màu huỳnh kim. Mười lăm năm sau, đương lúc niệm Phật, ông thấy Đức A Di Đà hiện kim thân, phóng quang chiếu mình ông. Ông liền đảnh lễ mà bạch rằng : “Ngưỡng mong Đức Thế Tôn từ mẫn xoa đầu con và lấy y trùm thân con”. Rồi ông rập đầu cúi lạy nơi chân Đức Phật. Đức Phật liền đưa tay vàng xoa đầu ông cùng kéo y vàng phủ trên mình ông.

Ít hôm sau, ông mơ thấy mình đến bên ao thất bảo, trong ao có vô số hoa sen lớn màu xanh và trắng, mặt nước đứng trong như lưu ly. Một người cao lớn, trên đầu có vầng sáng tròn, ngực bày chữ Vạn, chỉ nước ao mà bảo ông rằng : “Nước bát công đức đấy, ông uống đi !”. Ông vâng lời lấy tay bụm nước uống, nghe mùi rất thơm ngon, khoan khoái cả tâm thần. Sau khi ông tỉnh giấc, mùi thơm lạ từ lỗ chân lông tiết ra không dứt. Ông thuật chuyện lại với các bạn đồng tu và nói rằng : “Tôi, duyên về Tịnh Độ đã đến !”. Rồi ông cung thỉnh chư Tăng đến thất tụng Kinh Pháp Hoa. Còn ông thì thắp hương đối tượng Phật đảnh lễ nguyện rằng : “Nhờ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni con mới được biết Phật A Di Đà và Cực Lạc Tịnh Độ, nên hương này con thành tâm trước cúng dường Đức Bổn Sư, kế cúng dường Đức Từ Phụ A Di Đà Phật, sau cúng dường Kinh Pháp Hoa, vì nhờ công đức của Kinh này mà con được vãng sanh. Con nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng sanh Cực Lạc thế giới”. Nguyện và lạy xong, ông từ biệt mọi người rồi lên giường ngồi xoay mặt về hướng Tây mà tạ thế, thọ 59 tuổi. Bấy giờ nhằm năm Nghĩa Hy nhà Tấn.

Trích ở những bộ : Đông Lâm Truyện, 
Xuất Tam Tạng Ký Tập

V - DƯƠNG KIỆT

Dương Kiệt hiệu Vô Vi Tử, tự Thứ Công, người xứ Vô Vi. Năm Nguyên Phong, ông làm quan Thái Thường. Ban sơ ông mộ thiền, theo học với Thiếu Y Thiền sư, tham cứu cơ ngữ của Bàng cư sĩ. Một hôm ở Thái Sơn thấy mặt trời mọc như chiếc mâm đồng vọt lên, ông bỗng đại ngộ.

Năm Hy Ninh, mẹ mất, ông về nhà cư tang. Nhơn được rảnh việc quan, ông chuyên đọc tạng Kinh, và cũng do đó mà ông kính ngưỡng Tịnh độ. Ông họa tượng A Di Đà Phật, đi đâu cũng mang theo để ngày đêm lễ niệm. Đời ông trứ tác rất nhiều, tất cả văn phẩm đều chỉ quy Tịnh độ. Dưới đây là bài tựa bộ Tịnh Độ Thập Nghi Luận của ông soạn.

“Tình ái không nặng thời chẳng sanh Ta Bà, chánh niệm không thuần thời chẳng sanh Cực Lạc. Ta Bà là chỗ uế nhơ, Cực Lạc là nơi thanh tịnh. Thọ mạng của người Ta Bà thời hữu hạn, người Cực Lạc sống lâu vô cùng. Nơi Ta Bà này đủ muôn vàn sự thống khổ, cõi Cực Lạc kia chỉ thuần hưởng những điều an vui. Ở Ta Bà, chúng sanh phải theo nghiệp mà luân hồi sanh tử, còn Cực Lạc, một khi được sanh về thời tất chứng Vô sanh Pháp nhẫn một đời thành Phật, nếu muốn độ sanh thời tùy nguyện tự tại, không bị nghiệp chướng buộc ràng. Sự nhơ uế cùng thanh tịnh, khổ sở cùng an vui, già chết với trường tồn, luân hồi cùng giải thoát, sanh tử cùng tự tại… Hai cõi khác hẳn nhau rõ ràng mà người đời không biết không hay, thật đáng buồn thương.

A Di Đà Phật là đức cha lành nhiếp thọ chúng sanh về Tịnh Độ. Thích Ca Mâu Ni Phật là đấng thầy sáng chỉ đường về Cực Lạc. Quan Âm cùng Thế Chí là hai vị đại Bồ Tát giúp Phật độ sanh. Vì thế nên trong các Kinh giáo liễu nghĩa Đại thừa, luôn luôn có lời cặn kẽ khuyên người phát nguyện vãng sanh.

Đức A Di Đà Phật cùng Quan Âm, Thế Chí ngồi thuyền đại nguyện đi trong biển sanh tử, chẳng neo bờ bên này, chẳng đậu bờ bên kia, cũng không dừng ở giữa dòng, chỉ lấy việc tế độ làm nhiệm vụ. Như trong Kinh Di Đà nói : “Nếu thiện nam tín nữ nào được nghe A Di Đà Phật rồi chấp trì danh hiệu từ một ngày đến bảy ngày nhứt tâm bất loạn. Lúc người đó lâm chung, Đức A Di Đà Phật cùng chư Thánh hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm không điên đảo, liền đặng sanh về Cực Lạc quốc độ…” Kinh Vô Lượng Thọ lại nói : “Chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, nhớ tưởng cõi của tôi, tu các hạnh lành chí tâm hồi hướng cầu được sanh về cõi của tôi. Nếu chúng sanh đó không được toại nguyện thời tôi không ở ngôi Chánh giác”([13]).

Thuở Bổn Sư tại thế, chính viện Vô Thường([14]) ở Kỳ Hoàn Tinh xá sắp đặt cho những người bệnh đều xoay mặt về hướng Tây, chuyên tưởng Cực Lạc thế giới để cầu vãng sanh… Do vì quang minh của A Di Đà Phật chiếu khắp pháp giới nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật không bỏ rời. Thánh và phàm đồng thể, hễ có tâm niệm Phật, thời Phật đến rước, đó là cơ cảm tương ưng. Chúng sanh trong tâm của Phật, nơi nơi đều Cực Lạc. Tịnh Độ trong tâm chúng sanh, niệm niệm là A Di Đà. Nhơn những lẽ trên tôi xét thấy rằng : “Người trí huệ, dễ vãng sanh, vì không còn nghi ngờ vậy. Người thiền định dễ vãng sanh, vì không còn tạp loạn. Người trì giới dễ vãng sanh, vì không ô nhiễm. Người bố thí dễ vãng sanh, vì không tham luyến. Người nhẫn nhục dễ vãng sanh, vì không sân hận. Người tinh tấn dễ vãng sanh vì không thoái chuyển. Người không làm lành không gây ác dễ vãng sanh, vì chuyên niệm thuần nhứt vậy. Nhẫn đến người đã gây tạo tội ác, nghiệp báo đã hiện mà vẫn được vãng sanh vì tâm hết sức ăn năn sợ sệt vậy. Nên biết rằng dầu có nhiều phước lành, nếu không có lòng tin chắc, không phát nguyện hồi hướng, thời chẳng được vãng sanh.

Ôi ! A Di Đà Phật rất dễ niệm, Cực Lạc Tịnh Độ rất dễ về, mà chúng sanh không chịu niệm không muốn về, Đức Phật dầu là đấng đại từ bi, cũng không làm sao được. Vả lại, hễ ai tạo tội ác thời phải đọa vào nơi khốn khổ, còn niệm A Di Đà Phật thời được sanh về Cực Lạc, hai điều ấy đều là lời của Phật cả. Người đời lo sợ bị sa đọa, mà lại nghi sự vãng sanh, há không phải là mê lầm lắm ư !”.

Năm Nguyên Hựu, triều Tống, ông giữ chức Đề Hình Lưỡng Triết, một hôm ông họp thân thuộc lại để từ biệt và nói : “Lúc sống cũng không có gì tham luyến, lúc chết cũng chẳng có chi vất bỏ. Khắp thái hư không : chi, hồ, giả, dã. Đem sai đến lầm Tây phương Tịnh Độ !”. Dứt lời ông vui vẻ an nhiên mà mất.

Trước đây có quan Tham quân Vương Trọng Hồi, từng bẩm thọ pháp môn niệm Phật với ông Kiệt. Ông Hồi từng hỏi : “Thế nào được niệm Phật không gián đoạn ?”. Ông Kiệt đáp : “Sau khi đã tin chắc không còn lại nghi ngờ nữa, đó chính là không gián đoạn”. Ông Hồi nghe lời dạy ấy mừng lắm. Năm sau ông Kiệt mơ thấy ông Hồi đến cúi lạy mình mà nói : “Ngày trước nhờ ngài chỉ dạy cho pháp môn niệm Phật, nay tôi được vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới nên đến tạ ơn”. Ít hôm sau, ông Kiệt tiếp được thiệp tang và thơ của con trai ông Hồi gửi đến cho hay rằng : “Ông Trọng Hồi biết trước ngày giờ chết, từ giã các thân hữu rồi an lành mà đi”.

Sau khi ông Dương Kiệt mất, Kinh Vương Phu nhơn([15]), một nhà tu hành cao hạnh, thần du Tây phương thấy một người ngồi trên hoa sen lớn, y đẹp phất phơ, đội mão vàng, đeo chuỗi ngọc. Phu nhơn hỏi người đứng gần, đáp là Vô Vi Dương Kiệt.

Trích ở những bộ : Đồng Đô Sư Lược

Lạc Ban Văn Loại

VI - KHUYẾT CÔNG TẮC

Ông Khuyết Công Tắc người nước Triệu. Triều Tấn, ông ngụ ở Lạc Dương, tánh trầm tĩnh điềm đạm và phóng xả thế sự. Hằng ngày ông thọ trì Kinh Chánh Pháp Hoa.

Sau khi ông mất, bạn của ông đến chùa Bạch Mã lập trai đàn để hồi hướng công đức cho ông. Đêm ấy, giữa lúc pháp chúng tụng Kinh, thoạt nghe trên hư không có tiếng người gọi, và ánh sáng chiếu xuống. Mọi người ra sân nhìn lên đồng thấy một người thân hình rất sáng và rất đẹp ngó xuống nói : “Tôi là Khuyết Công Tắc đây ! Tôi đã được sanh về Cực Lạc thế giới nay tôi với chư thượng nhơn đến nghe Kinh”.

Ông Vệ Sĩ Độ ở Hấp Quận, vốn là học trò của ông Tắc. Bà mẹ của ông Độ thường hay trai Tăng nơi nhà. Một hôm gần đến giờ Ngọ, chư Tăng sắp sửa thọ trai, trên hư không, bỗng rơi xuống một cái bát ngay trước mặt mẹ ông Độ. Mọi người xem kỹ thời là cái bát mà trước kia ông Công Tắc thường dùng. Bát ấy đựng đầy cơm, mùi cơm thơm ngát cả nhà. Những người được ăn cơm ấy, cả bảy ngày khỏe khoắn không biết đói. Ông Chi Đạo Lâm, một danh nhơn thời ấy, có làm lời khen ngợi ông Tắc : “Cao cả thay ông Khuyết Công Tắc ! Thần dị linh thiêng ! Thần sanh Cực Lạc, ứng tích Đông Kinh. Bay trên hư không thân sáng giọng hòa. Kính dâng vài lời, ghi truyền trong đời”.

Trích ở các bộ : Đại Đường Nội Điển Lực

Niệm Phật Tam Muội Bửu Vương Luận

VII - CANH TÂN

Ông Canh Tân, tự Ngạn Bửu, người Tân Dã, học thông kinh sử. Ông tánh bình dị, thích cảnh núi rừng, ăn chay, áo thô rách, không thích kinh doanh sản nghiệp. Ông bẩm tánh nhu hòa nhẫn nhục, siêng rèn luyện đức hạnh.

Vua Lương Võ Đế thuở thiếu niên chơi thân với ông Tân, khi được hiển vinh, vua mời ông Tân lãnh chức Bình Tây Phủ Ký Thất, ông Tân không nhận lời. Năm Phổ Thông, Lương Võ Đế lại chiếu phong chức Huỳnh Môn Thị Lang, ông Tân cáo bệnh mà từ. Sau ông Tân lập đạo tràng nơi nhà, ngày đêm sáu thời lễ sám, tụng Kinh Pháp Hoa mỗi ngày một bộ.

Một đêm nọ, thoạt có một đạo nhơn đến nơi đạo tràng tự xưng là Nguyên Công gọi ông Tân là Thượng Hạnh tiên sanh, trao cho ông Tân một nén hương rồi biến đi.

Năm Đại Thông thứ 4, ông Tân đương ngủ ngày vụt choàng trỗi dậy kêu người nhà mà nói rằng : “Nguyên Công đã đến, không thể chậm được !”. Dứt lời liền tắt hơi. Cả nhà đồng nghe trên hư không xướng to rằng : “Thượng Hạnh tiên sanh đã sanh về cõi thanh tịnh của A Di Đà Phật !”. Năm ấy ông Tân được 78 tuổi.

Trích ở bộ Nam Sử

VIII - TÔN TRUNG

Ông Tôn Trung người Minh Châu, sớm mộ Tây phương, ăn chay giữ giới. Ông cất am, đào hai ao lớn trồng sen trắng, bên ao dựng điện, nhóm các thiện tín lập hội niệm Phật.

Một hôm ông thấy Đức Phật A Di Đà hiện thân trên hư không, ông vội chạy ra sân đồng thời kêu hai người con trai của ông cùng mọp dưới đất lễ Phật. Đức Phật hiện lâu lắm mới ẩn. Nhơn đó nên người thời ấy gọi khu đất đó là xóm Trú Phật (đất Phật dừng lại).

Năm Nguyên Hựu thứ 8 triều Tống, Sư Khả Cửu đã sanh Tây phương Cực Lạc, cách ba ngày trở lại nói thấy trên đài vàng nêu tên Tôn Thập Nhị Lang (tức Tôn Trung).

Mười hai năm sau, ông nhuốm bệnh bèn mời Tăng và tục 100 người đến niệm Phật. Giữa lúc đại chúng tụng niệm, ông Tôn Trung bỗng ngước mặt ngó lên hư không chắp tay mà vái chào rồi kiết ấn mà qua đời. Cả thành Minh Châu mọi người đồng nghe tiếng thiên nhạc và mùi thơm lạ bay lần về hướng Tây.

Hai người con trai của ông Trung cũng tinh tấn niệm Phật, ít lúc sau đồng ngồi xoay mặt về hướng Tây niệm Phật mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

IX - TẢ THÂN

Ông Tả Thân, người Lâm Hải, thọ Bồ Tát giới với Thần Chiếu Pháp sư. Ông nghe giảng pháp yếu Đại thừa bỗng rỗng suốt tỏ ngộ. Từ đó ông nghiêm trì giới luật, tạo tượng Tây phương Tam Thánh, sớm tối kính lễ cầu sanh Tịnh Độ. Ông tụng Kinh trước sau tính được 3.400 bộ Pháp Hoa, 20.000 quyển Kim Cang.

Năm Thiệu Thánh thứ 2, mùa Thu, ông nhuốm bệnh, bảo con trai của ông là Sa môn Tịnh Viên xướng đề Kinh Pháp Hoa. Kế đó ông mơ thấy ba người cao lớn đứng bờ sông kêu ông mau lên thuyền, ông tuân lời, thuyền liền vụt đi về phía Tây. Thức dậy, ông tự biết đã đến giờ vãng sanh, liền thỉnh chư Tăng đến nhà tụng Kinh A Di Đà. Ông nói với mọi người rằng : “Tôi đã thấy quang minh của Phật”. Ông tự đi tắm gội thay đổi y phục, căn dặn quyến thuộc đừng than khóc mà làm ngại sự vãng sanh của ông. Rồi ông ngồi ngay thẳng tay kiết ấn mà qua đời.

Trích ở các bộ : Pháp Hoa Trì Nghiệm Ký

Phật Tổ Thống Kỷ

X - VƯƠNG ĐIỀN

Ông Vương Điền tự Vô Công người Minh Châu, hỏng khoa Tấn Sĩ, ông bèn mặc áo vải ăn chay đi khắp các nơi tham học Phật pháp. Khi tuổi cao, ông ở nhà chuyên tu niệm Phật Tam muội. Ông trứ thuật bộ “Tịnh Độ Tự Tín Lục”, và dưới đây là bài tựa của bộ sách ấy :

“Pháp môn Tịnh độ của Phật dạy, có một lời trùm cả ý nghĩa : hạng phàm phu mà được trụ bậc bất thoái. Vì sao thế ? Vì ở Ta Bà này tu hành, về Đại thừa Viên giáo thời Sơ tín Bồ Tát, còn Tiểu thừa thời Sơ quả Thánh nhơn, hai bậc này đoạn kiến hoặc bắt đầu dự hàng Thánh, tà kiến tam độc không còn sanh khởi, khỏi hẳn ác đạo không mất thân nhơn, thiên và cách đời không quên quả đã chứng. Còn về hạng phàm, dầu là bậc phục hoặc phát ngộ Bồ Tát, một khi bị sanh tử, thường thời quên chỗ tu chứng của đời trước, do đó nên có vị gặp chướng duyên phải thoái đạo mà đọa vào tam đồ.

Sao bằng cõi Cực Lạc, chỉ có thượng thiện nhơn mà không ác đạo, nên chi được vãng sanh liền thoát hẳn tam đồ. Lại thêm trợ duyên tu hành rất đầy đủ, tuổi thọ lại vô lượng vô biên kiếp. Dầu là hạng rất ngu chậm, nội một đời quyết chứng Thánh quả, trọn không có sự thoái thất. Vì thế nên Đức Bổn Sư luôn luôn tán thán Cực Lạc, cùng phát nguyện cầu sanh. Nếu là hạng đại căn đại trí minh tâm kiến tánh mà hồi hướng cầu sanh thời chiếm phẩm cao. Người quê tối, chỉ siêng niệm Phật phát nguyện tha thiết cũng đặng vãng sanh.

Ôi ! Xét kỹ một môn niệm Phật thời rõ lòng Phật không bỏ sót một ai. Những người cố chấp si không, bắt chước hạnh vô ngại vô tu đó là chướng mình mà cũng chướng cả người, thật đáng thương đáng xót lắm !”.

Năm Thiệu Hưng thứ 16, tháng Tư, một đêm nọ thoạt nghe hương lạ ngào ngạt khắp nhà. Ông Điền nói với Sa môn Tư Tề rằng : “Đó là tịnh nghiệp của tôi cảm cách đấy !”. Rồi ông rửa thay y phục, đoan tọa xoay mặt về hướng Tây mà mất. Sau khi thiêu xác ông, được 108 hột xá lợi bằng hột lúa.

Trích ở bộ : Phật Tổ Thống Kỷ

Lạc Ban Văn Loại  

D 1 - CHƯ TÍN NỮ

I - VI ĐỀ HI

Hoàng Thái hậu Vi Đề Hi, người nước Ma Kiệt, vợ vua Tần Bà Ta La ở kinh thành Vương Xá. Thái tử A Xà Thế nghe lời Sa môn Điều Đạt([16]), bắt vua cha là Tần Bà Ta La giam trong nhà ngục bảy lớp cửa, cấm ngặt không cho các quan lui tới, cố ý bỏ vua chết đói. Thái hậu mới tắm gội thật sạch, lấy bột trộn với sữa và mật trét lên mình, trong chuỗi ngọc thời đựng nước nho, rồi vào thăm vua và lén dâng cho vua dùng. Ngài Đại Mục Kiền Liên và Phú Lâu Na vận thần thông bay đến truyền giới Bát quan trai và thuyết pháp cho vua. Mỗi ngày được ăn bột sữa uống nước nho, và được thọ giới nghe pháp, nên dầu bị giam cầm mà dung sắc của vua càng tăng phần khỏe mạnh vui vẻ.

Hai mươi mốt ngày sau, A Xà Thế được tin ấy, nổi giận, cầm gươm bèn định vào cung giết mẹ. Nhờ hai quan đại thần, Nguyệt Quang và Kỳ Bà, hết lời can gián, A Xà Thế mới bỏ gươm, truyền nội thất nhốt Thái hậu trong cung, không cho đến thăm vua cha nữa.

Thái hậu bị nhốt rất lo âu buồn thảm. Bà mới hướng về núi Kỳ Xà Quật, nơi mà Đức Bổn Sư đang ngự, cúi đầu đảnh lễ rồi vái rằng : “Ngày trước Đức Thế Tôn thường sai ngài A Nan đến viếng con, nay con đang gặp phải việc buồn thảm. Đức Thế Tôn oai đức cao trọng, phận con phước bạc không phiền nhọc đến Thế Tôn, ngưỡng mong Đức Phật cho ngài Mục Liên và A Nan đến an ủi con !”. Vái rồi bà tủi phận nước mắt trào ra, mọp sát đất mà lạy. Lúc đó, Đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật thấu rõ nỗi lòng của Thái hậu, liền sai Mục Liên và A Nan bay trên hư không mà đến hoàng cung, Đức Phật cũng rời núi Kỳ Xà Quật mà hiện ra trước Thái hậu.

Thái hậu Vi Đề Hi, sau khi mọp lạy ngước đầu dậy, chợt thấy Thích Ca Mâu Ni Phật thân màu vàng chói ngự trên tòa sen trăm thứ báu. Bên tả thời Mục Liên, bên hữu thời A Nan. Trên hư không, Thiên Đế cùng Phạm Vương và chư Thiên rải hoa trời cúng dường Phật. Thái hậu liền tự bứt bỏ những vòng vàng chuỗi ngọc, mọp sát trên đất khóc nức nở mà bạch Phật rằng : “Đời trước con có gây lấy tội gì mà nay sanh đứa con bất hiếu đến thế. Ngưỡng mong Đức Thế Tôn chỉ nơi nào không có sự đau khổ lo sầu để con vãng sanh. Con không còn muốn ở cõi trược ác này. Cõi gì mà đầy những địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh ! Nguyện con đời sau không còn nghe tiếng ác, không còn thấy kẻ ác. Nay con kính lạy Đức Thế Tôn mà cầu ai sám hối. Xin Phật dạy cho con pháp quán tưởng nghiệp hạnh thanh tịnh”.

Bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni Phật từ nơi lông trắng giữa chặng mày, phóng ánh sáng sắc vàng chiếu khắp vô lượng thế giới ở mười phương, rồi ánh sáng ấy xoay về tụ trên đảnh của Phật, hóa làm hình một cái đài vàng lớn như núi Tu Di. Các cõi nước thanh tịnh trang nghiêm của thập phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy. Nương thần lực của Phật, Thái hậu thấy được tỏ rõ tất cả : có cõi nước như Tự Tại Thiên cung, có cõi nước thuần là liên hoa, có thế giới bằng bảy chất báu hiệp thành… Thái hậu ngắm kỹ tất cả rồi bạch Phật rằng : “Những thế giới ấy dầu rằng đều thanh tịnh trang nghiêm, đồng sáng đẹp cả, nhưng con chỉ muốn sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà thôi. Mong Đức Thế Tôn dạy con cách tư duy tu tập, dạy con phương pháp thâm nhập chánh định”.

Nghe Thái hậu thưa xong, Đức Phật mỉm cười. Ánh sáng năm màu từ miệng Phật phóng ra chiếu thẳng đến đầu vua Tần Bà Ta La. Lúc đó nhà vua dầu bị giam trong ngục kín, nhưng tâm nhãn bỗng khai thông, nên vua thấy được Phật. Nhà vua liền cúi đầu rập lạy tự nhiên đạo lực tăng tấn chứng quả A-na-hàm([17]).

Đức Phật bảo Vi Đề Hi : “A Di Đà Phật cách đây không xa, Thái hậu nên nhiếp tâm quán kỹ cõi nước Cực Lạc của Ngài. Ta sẽ giảng rõ pháp môn Tịnh độ cho Thái hậu, và cũng để cho chúng sanh đời sau y theo tu hành đặng sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới. Nếu là người muốn sanh về cõi đó phải tu ba phước nghiệp :

1.- Thảo nuôi cha mẹ, kính thờ thầy Tổ, từ tâm không sát hại, tu mười nghiệp lành([18]).

2.- Thọ trì tam quy y, nghiêm trì giới hạnh, chẳng phạm oai nghi.

3.- Phát Bồ-đề tâm, tin chắc lý nhơn quả, đọc tụng Kinh Đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

Ba điều trên đây là chánh nhơn tịnh nghiệp của thập phương chư Phật”([19]).

Và sau khi giảng rộng mười sáu pháp quán tưởng xong, Thái hậu Vi Đề Hi cùng 500 cung nữ đồng thấy rõ cõi nước Cực Lạc, thấy rõ Đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Thế Chí. Mọi người rất vui mừng, Thái hậu thoạt nhiên tâm trí sáng suốt chứng Vô sanh nhẫn. Năm trăm cung nữ phát Bồ-đề tâm nguyện sanh Cực Lạc thế giới. Đức Phật liền thọ ký cho tất cả đều sẽ được vãng sanh, và sau khi được sanh về Cực Lạc, tất cả những người ấy sẽ chứng được “Chư Phật hiện thân Tam muội”([20])

Trích ở Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh

II - LẠC ÂM LÃO MẪU

Một lúc nọ, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật ở nơi vườn Lạc Âm trong nước Duy Gia La, có một bà già nghèo khổ đến bạch Phật rằng : “Sanh, lão, bệnh, tử bốn điều khổ ấy từ đâu mà lại, rồi chúng nó sẽ về chỗ nào ? Cho đến lục thức, lục căn, ngũ đại các thứ ấy từ đâu lại rồi về nơi đâu ?”. Phật đáp : “Sanh, lão, bệnh, tử không từ đâu lại, cũng không về chỗ nào, cho đến lục thức, lục căn, ngũ đại không từ chỗ nào lại, cũng không về chỗ nào. Ví như hai khúc gỗ, cọ nhau bật ra lửa, lửa trở lại đốt khúc gỗ, gỗ cháy hết thời lửa tắt. Các pháp cũng vậy, do nhân duyên hội họp mà thành, nhân duyên ly tán thời hoại. Không từ đâu lại, cũng không về đâu”.

Bà già nghe Phật giảng dạy, tâm trí mở thông chứng bậc Pháp nhãn thanh tịnh.

Đức Phật nói với chúng hội : “Thuở quá khứ lúc Ta phát Bồ-đề tâm, có một đời từng làm con trai của thân trước của bà già này. Về sau này, khi thọ mạng đã mãn, bà già này sẽ sanh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Qua 60 ức kiếp bà sẽ thành Phật hiệu là Phò Ba Kiện, làm giáo chủ cõi nước Hóa Tác.

Trích ở Lão Mẫu Kinh

III - KỶ THỊ

Kỷ Thị người thời Lưu Tống, vợ của Cát Tế ở Cú Dung. Ông Tế là dòng dõi ông Cát Hồng, gia thế học tiên thuật. Riêng Kỷ Thị thích Phật pháp, kính tin chí thiết, siêng năng lễ niệm.

Một hôm Thị đương ngồi dệt, cảm thấy trời đất trong sáng hơn ngày thường, Thị ngước đầu ngó lên, thoạt thấy vô số tràng phan bảo cái từ phương Tây bay lại, ở giữa có một vị ngự tòa sen báu, thân sắc vàng tỏa ánh sáng chiếu suốt mây xanh. Kỷ Thị ngừng dệt chăm nhìn, lòng mừng lắm tự nói : “Đây chắc là Đức A Di Đà Phật mà trong Kinh thường nói đến !”. Thị vội vã rập đầu đảnh lễ, rồi kêu ông Tế ra chỉ cho xem. Lúc ông Tế nhìn thời chỉ thấy được nửa thân trên của Phật và tràng phan bảo cái. Cả xóm ấy, mọi người cũng đều thấy như thế. Từ đó, Cát Tế bỏ Tiên theo Phật, và rất đông người quy ngưỡng Phật pháp.

Trích ở bộ Minh Tường Ký

IV - CON GÁI CỦA NGỤY THẾ TỬ

Con gái của Ngụy Thế Tử, người Lương Quận. Cả nhà cha và các anh đều tu tịnh nghiệp, cô cũng quyết chí vãng sanh. Riêng bà mẹ chưa phát tâm. Ít lâu cô chết, thân ấm nóng không lạnh, bảy ngày sống lại, cô liền lên ghế cao ngồi tụng Kinh Vô Lượng Thọ. Tụng xong cô xuống ghế thưa với cha mẹ rằng : “Con đến Cực Lạc thế giới của Vô Lượng Thọ Phật, con đi xem khắp ao thất bảo, thấy cha cùng các anh và con, mỗi người đều có hoa sen lớn đẹp, sẽ thác sanh nơi đó. Chỉ một mình mẹ là không có, vì lòng thương mẹ nên con trở lại báo tin !”. Nói xong cô liền nhắm mắt. Từ đó bà mẹ của cô phát khởi tín tâm tinh tấn tu trì.

Trích ở bộ Minh Tường Ký

V - VƯƠNG THỊ

Vương Thị vợ của Tiết Ông, thân mẫu của Sư Đảnh Cái. Hằng ngày Thị đọc tụng các Kinh, siêng tu lễ sám chí cầu Tịnh Độ.

Năm Trinh Quán thứ 11, nhuốm bệnh, Thị càng khẩn thiết tu trì hơn. Không bao lâu, trước giường của Thị nằm có hiện một hoa sen đỏ bằng cái ché năm đấu. Rồi lại hiện ra hoa sen xanh lớn chật cả nhà. Đồng thời Đức A Di Đà Phật cùng Quan Thế Âm, Đại Thế Chí hiện thân trên hư không. Cháu nội của Thị là ông Đại Hưng lúc đó đương đứng hầu bệnh, thấy Đức Phật cao lớn trội hơn hai vị Bồ Tát. Một lát sau, Phật và hai vị Bồ Tát mới ẩn. Xem lại thời Vương Thị đã tắt hơi rồi.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

VI - VIỆT QUỐC PHU NHƠN

Việt Quốc Phu nhơn, họ Vương vợ của Kinh Vương chú của vua Triết Tông nhà Tống.

Phu nhơn chuyên tu Tịnh Độ ngày đêm tinh tấn, khuyến dẫn hạng thiếp, tỳ đồng dốc chí vãng sanh. Trong hàng tỳ thiếp có một người thiếp trễ lười, Phu nhơn trách : “Chẳng có thể vì một mình nhà ngươi mà phá hoại trật tự của nhà ta !”. Rồi Phu nhơn ra lịnh đuổi đi, người thiếp ấy sợ lắm và rất ăn năn, cần cầu tạ lỗi, từ đó trở đi, người thiếp ấy hết sức tinh tấn, tu trì không quản mệt nhọc. Ít lâu sau, một hôm người thiếp ấy bảo các bạn rằng : “Tôi sẽ đi nội ngày nay !”. Tối hôm ấy, mọi người đều ngửi thấy mùi thơm lạ khắp nhà, người thiếp ấy vẫn không chút bị ốm, an nhiên mà chết. Cách đêm sau một người thiếp khác thưa với phu nhơn rằng : “Tôi mơ thấy cô ấy mách rằng nhờ phu nhơn khuyên mới được vãng sanh Cực Lạc thế giới, đội ơn vô cùng. Cô ấy bảo tôi thay lời kính tạ phu nhơn”. Phu nhơn nói : “Cô ấy ứng mộng cho ta thời ta mới tin !”.

Tối đến, phu nhơn chiêm bao thấy người thiếp đã chết về tạ ơn. Phu nhơn hỏi : “Tôi có thể đến Tây phương được không ?”. Thiếp đáp : “Được !”. Rồi dắt phu nhơn đi. Thoạt thấy trước mặt một thế giới cực kỳ đẹp sáng, có một cái ao rộng lớn mênh mông. Trong ao đầy những hoa sen, hoặc to, hoặc nhỏ, có cái lại héo. Phu nhơn hỏi duyên cớ. Thiếp phân giải : “Người đời tu Tịnh độ, vừa phát tâm thời trong ao báu này mọc lên một ngó bông. Vì người siêng kẻ trễ không đồng, nên mới có tươi có héo khác nhau như vậy. Người nào tinh tấn thời bông sen của người ấy tươi tốt to sáng, còn ai biếng lười thoái thất thời hoa của người ấy cũng héo lần. Nếu người một mực tu trì lâu ngày chẳng nản, công phu niệm Phật thuần thục, đến khi thọ mạng đã mãn, quyết định thác sanh trong hoa sen này”. Trên một hoa sen lớn, phu nhơn thấy một người ngồi mão vàng chuỗi ngọc ánh sáng rực rỡ, bèn hỏi. Người thiếp đáp : “Ông Dương Kiệt đấy !”. Phu nhơn lại thấy một người khác, nhưng hoa sen của ông ấy đang ngồi chưa nở xòe. Người thiếp bảo là ông Mã Vu([21]).

Phu nhơn hỏi : “Tôi sẽ sanh tại hoa sen nào ?”. Người thiếp liền dắt phu nhơn đi chừng vài dặm thấy một đài hoa, vàng ngọc rực rỡ, chiếu sáng dị thường. Thiếp vừa chỉ vừa nói : “Đó là chỗ phu nhơn sẽ thác sanh. Kim đài thượng phẩm thượng sanh đấy !”.

Sau khi tỉnh dậy, phu nhơn rất vui đẹp nơi lòng, công việc tự tu cùng khuyến hóa người càng chí thiết hơn. Năm ấy, đến ngày sanh nhựt của phu nhơn, sáng sớm phu nhơn tay cầm lư hương hướng về phía lầu thờ đức Quan Thế Âm mà đứng ngay thẳng. Quyến thuộc trong dinh hội lại rồi đồng đến trước mặt phu nhơn định để chúc thọ, chúng xem kỹ, thì ra phu nhơn đã vãng sanh rồi.

Trích ở bộ Lạc Ban Văn Loại

VII - GIAO BÀ

Giao Bà, người Thượng Đảng, thân với Phạm Bà. Phạm Bà khuyên niệm Phật, Giao Bà nghe lời, bèn giao hết việc gia đình cho dâu con, rồi nhứt tâm niệm Phật.

Đến lúc lâm chung, thấy Đức A Di Đà Phật hiện trên hư không. Quan Âm và Thế Chí hầu hai bên. Giao Bà đảnh lễ rồi bạch Phật : “Nhờ Phạm Bà con mới được thấy Phật, xin Phật chờ con một lát, để con từ biệt Phạm Bà”. Rồi lập tức cho người mời Phạm Bà, lúc Phạm Bà đến, Phật và hai vị Bồ Tát vẫn còn trụ trên hư không. Giao Bà đứng chắp tay từ biệt mà theo Phật.

Trích ở bộ Tịnh Độ Văn

VII - Vợ ông ÔN TỊNH VĂN

Vợ ông Ôn Tịnh Văn, người Tinh Châu, nằm bệnh dây dưa không mạnh, Tịnh Văn dạy niệm Phật A Di Đà, mụ nghe lời. Từ đó đến trọn hai năm sau, mặc dầu bệnh khổ trên thân, mụ thầm niệm danh hiệu của Phật không ngớt. Một hôm mụ nói với Tịnh Văn rằng : “Tôi đã được thấy Phật chắc chắn sẽ về Cực Lạc ở tháng tới”.

Trước giờ lâm chung ba ngày, có hoa sen lớn sáng như mặt đất mới mọc hiện ở trước giường của mụ. Đến ngày, mụ sắm sửa thức ăn đến dâng cho cha mẹ mà thưa rằng : “Nay con may mắn được vãng sanh Tịnh Độ, trông mong cha mẹ và ba nó chuyên niệm A Di Đà Phật, tất sẽ được gặp nhau ở Cực Lạc”. Thưa xong mụ lễ Phật, rồi đoan tọa mà mất.

Trích ở bộ Tịnh Độ Văn

IX - CHUNG LY PHU NHƠN

Chung Ly phu nhơn, họ Nhiệm, người Cối Kê, chính là thân mẫu của Tri phủ Chung Ly Cẩn. Đời bà siêng tu tịnh nghiệp, trổ gỗ Chiên đàn làm tượng A Di Đà Phật. Mỗi đêm bà thường đội tượng trên đầu mà hành đạo.

Năm 98 tuổi, bà vẫn mạnh giỏi như thường. Một hôm bà gọi Tri phủ mà bảo rằng : “Ai ai đều sẵn có Đức A Di Đà, ngặt vì tự vất đi. Nơi nơi đều là cõi Cực Lạc mà chẳng biết trở về. Mẹ sắp vãng sanh, con phải siêng niệm Phật !”. Sáng ngày sau, bà dậy thật sớm thắp hương quỳ niệm Phật. Niệm được một lát, bà nín lặng mà đi. Tay bà vẫn còn chắp ngang ngực, thân bà vẫn còn quỳ ngay thẳng.

Trích Phật Tổ Thống Kỷ

X - MỤ VU

Mụ Vu họ Tần, người Tiền Đường, chồng làm nghề bán cá. Con trai phạm luật nước, gia sản bị khánh tận. Mụ Vu sầu khổ, đến bờ sông định tự tử. May gặp Từ Chiếu Pháp sư can ngăn mà khuyên rằng : “Đó là nghiệp duyên đã gây từ đời trước, nay mụ nên cam tâm mà trả. Bắt đầu từ nay mụ nên vun trồng nghiệp nhơn thanh tịnh, sau này sẽ hái lấy quả giải thoát an vui. Nhảy xuống sông để trốn nợ, để rồi đời sau lại phải trả nặng hơn. Đâu bằng cứ sống mà chuyên tu niệm Phật !”.

Nghe Pháp sư giảng giải, mụ Vu tỉnh ngộ, bèn đối trước tượng Phật đốt ngón tay, thệ trường trai niệm Phật. Từ đó trở đi mụ Vu tinh tấn tu niệm trọn mười năm không bê trễ. Phàm gặp bất luận ai, mụ đều gọi là Phật tử cả.

Một ngày nọ, mụ Vu thỉnh chư Sư Tăng đến nhà tụng Quán Vô Lượng Thọ Kinh, còn mụ thì lần chuỗi niệm Phật. Chư Sư tụng đến đoạn “Quán tượng” thời mụ Vu yên lặng mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ


[1] Tức là Trí Giả Đại sư, Sơ Tổ của tông Pháp Hoa, cũng gọi là tông Thiên Thai

[2] Tác giả bộ Đại Thừa Chỉ Quán Luận

[3] Một phẩm trong kinh Pháp Hoa

[4] Bậc “Lục căn thanh tịnh” là bậc “Viên giáo sơ tín”, bậc này đã viên phục ngũ trụ hoặc và đã đoạn kiến hoặc thuộc Nội Phàm.

Bậc “Ngũ phẩm” là “Viên giáo ngũ phẩm Pháp sư vị”, đã viên phục ngũ trụ hoặc, thuộc Ngoại Phàm.

[5] Xem lược sử Long Thọ Bồ Tát

[6] Trong kinh Lăng Nghiêm, chúng sanh trong tam giới chia làm bảy loài : 1. Địa ngục. 2. Ngạ quỷ. 3. Súc sanh. 4. A tu la. 5. Nhân loại. 6. Tiên . 7. Chư Thiên. Tất cả đều là phàm phu luân hồi sanh tử.

[7] Do đây nên người đời gọi ngài là Hổ Khưu Thiền sư

[8] Nên xem bài Đại Thế Chí Bồ Tát nơi chương Thân tướng trong Đ.V.C.L tập I.

[9] Cách tu của pháp môn này là vừa đi vừa quán tưởng Phật, đi luôn không ngồi nằm từ 7 ngày đến 90 ngày. Khi chứng chánh định thời tự thấy Đức A Di Đà Phật đứng trên đầu nên gọi “Bát Chu” (Phật đứng)

[10] Trong Pháp Hoa, tiền thân của Thích Ca khi gặp chúng tại gia hay xuất gia đều cung kính đảnh lễ mà nói : “Quý ngài sẽ thành Phật. Tôi không dám khinh quý ngài !”. Nên người thời ấy gọi ngài là “Thường Bất Khinh”

[11] Ba môn giải thoát : 1.- Không giải thoát môn. 
2.- Vô tướng giải thoát môn. 3.- Vô tác giải thoát môn.

[12] Thật tế : Lý chơn thật, chơn lý

[13] Điều nguyện thứ 20 trong 48 điều nguyện của đức Từ Phụ. Xem chương Hoằng Nguyện ở tập I.

[14] Nhà để chư Tăng bệnh nặng ở

[15] Tức là Việt Phu nhơn, có lược sử ở đoạn chư Tín nữ truyện thứ VI

[16] Tức Đề Bà Đạt Đa, em họ của Phật và là đệ tử của đức Bổn Sư, thường tìm cách hại Phật và phá Tăng. Ông xúi Thái tử A Xà Thế giết vua cha mà cướp ngôi.

[17] Quả thứ ba trong bốn bậc Thánh Tiểu thừa, người chứng quả này nhứt dứt sạch chín phẩm tư hoặc của cõi Dục. Sau khi xả thân, sẽ sanh lên cõi trời Bất Hoàn ở đầu cõi Sắc, rồi chứng quả A-la-hán thứ tư, không còn trở lại cõi Dục nữa.

[18] Thân ba nghiệp lành : Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm.

 Miệng bốn nghiệp lành : Không nói láo, không đòn xóc, không mắng rủa, không nói thêu vẽ.

Ý ba nghiệp lành : Không giận hờn ganh ghét, không tham lam bỏn sẻn, không si mê tà kiến.

Trên đây là mười nghiệp lành thuộc “Chỉ thiện”, còn có mười nghiệp lành thuộc “Tác thiện” :

Ba tác thiện nơi thân : phóng sanh, bố thí, trinh chánh

Bốn tác thiện nơi miệng : Nói thật, nói hòa giải, nói nhã nhặn, nói đúng.

Ba tác thiện nơi ý : từ bi nhơn ái, hỷ xả, chánh tín chánh kiến.

[19] Điều thứ nhứt là tịnh nghiệp bậc hạ. Điều thứ hai là tịnh nghiệp bậc trung. Điều thứ ba là tịnh nghiệp bậc thượng. Đủ cả ba thời là bậc thượng thượng.

[20] Chính là “Niệm Phật Tam muội”. Người chứng Tam muội này thời luôn luôn được thấy A Di Đà Phật và thập phương chư Phật hiện thân ở trước mặt.

[21] Bấy giờ ông Dương Kiệt đã vãng sanh, ông Mã Vu còn tại thế và đương tu Tịnh Độ.


^