Trang chủ >> Đường về Cực Lạc

CHƯƠNG THỨ TÁM P3

TỨ CHÚNG VÃNG SANH TRUYỆN

TỨ CHÚNG VÃNG SANH THỨ BA

A 3 - CHƯ SƯ TĂNG 

I - TRÍ LỄ

Trí Lễ Đại sư, họ Kim, tự Ước Ngôn, người Minh Châu. Phụ mẫu lễ Phật cầu tự, mơ thấy Thần Tăng trao cho một đồng tử và nói rằng : “Đây là Phật tử vậy”. Không bao lâu Đại sư được sanh. Năm lên 7 mẹ mất. Đại sư ngày đêm kêu khóc, thưa với cha xin xuất gia. Thế độ nơi Hồng Tuyển Đại sư tại chùa Hưng Quốc ở Thái Bình. Tuổi trưởng thành, Đại sư đến học Thiên Thai giáo quán với Nghĩa Thông Pháp sư ở chùa Bửu Vân. Tông chỉ viên đốn một phen truyền dạy là Đại sư liễu đạt cả. Ít lúc sau, Đại sư trụ Báo Ân Viện giảng Thiên Thai giáo quán, Tăng chúng theo học rất đông. Minh Châu bị hạn, Đại sư hiệp cùng Từ Vân Sám chủ tu Quang Minh Sám, Đại sư ước ba ngày mà không mưa sẽ tự đốt một cánh tay. Đến ngày thứ ba, trời mưa to. Năm Tường Phù thứ ba, triều Tống, Đại sư trùng kiến Báo Ân Viện, triều đình phụng hiệu “Diên Khánh Tự”. Năm thứ sáu, Đại sư lập đạo tràng niệm Phật truyền giới. Đại sư có làm bài văn để khuyến tấn đại chúng.

“Nguyện về một niệm bổn dung, chư pháp vô ngại, bị huân tập đã khác tất thọ báo không đồng. Cho nên hễ thuận tánh mà tu thời hiển chư Phật Tịnh Độ, còn theo tình tạo nghiệp thời chịu khổ trong luân hồi. Vì thế, ở Ta Bà mà tu giải thoát rất khó, đọa lạc phần nhiều. Kinh nói : “Được thân người như đất dính móng tay, đọa tam đồ như cõi đại địa”. Chờ đến Thánh hạnh đầy đủ mới khỏi thọ sanh nơi ác đạo. Đó là do vì ở cõi uế trược này trần cảnh thô cường, phiền não hẩy hừng nên tự lực cầu giải thoát khó có người được. Nếu người sanh về Tịnh Độ Cực Lạc thời cảnh giới trang nghiêm, thân tâm thanh tịnh, thẳng một mực lên quả Phật, chẳng còn sa đọa. Như Kinh dạy : “Còn không có danh từ ác đạo, huống là có sự thật”. Kinh lại nói : “Chúng sanh, sanh về Cực Lạc đều là bậc A Bệ Bạt Trí”. Nếu ai muốn sanh về cõi tịnh đó, thời phải xưng niệm hồng danh của A Di Đà Phật, tu hạnh từ của A Di Đà Phật, tất được nguyện lực của Phật nhiếp thủ. Khi xả thân này quyết định vãng sanh. Rõ như trong Kinh đã dạy, thiệt chẳng phải tôi tự đặt điều. Nay kết muôn người để làm một hội tâm tâm chuyên niệm, ngày ngày nguyện sanh.

Mỗi năm đến tiết trọng xuân, đồng hợp một chỗ, đồng cúng dường Phật, đồng nghe pháp âm. Hợp cả vạn tâm làm thành nhứt chí, cho tịnh nghiệp chóng thành, thệ được vãng sanh. Huống lại thân mạng ngũ trược khác nào ngọn đèn trước gió. Một hơi thở chẳng trở lại thời ác đạo hiện tiền. Đâu đặng chần chờ mà không nghĩ đến quả báo ở ngày mai ! Phải thể theo lời Phật đã dạy, chớ nên tùy tục tình. Kíp dứt bặt phan duyên, siêng gắng niệm Phật”.

Từ đó trở đi, cứ đến Rằm tháng Hai là ngày đại hội thường năm.

Đại sư từng cùng mười Sư Tăng tu Pháp Hoa Sám ba năm, kỳ mãn hạn sẽ đốt thân cúng dường Kinh Pháp Hoa để cầu sanh Tịnh Độ. Sau vì đại chúng cực lực ngăn trở nên thôi. Đại sư lại cùng mười Sư Tăng tu Đại Bi Sám ba năm, đốt ba ngón tay cúng Phật. Nhà vua biết được hạnh đức của Đại sư, bèn phụng hiệu là “Pháp Chí”, và có lời khuyên nên trụ thế truyền đạo.

Đại sư thấy chư Tổ xiển dương Tịnh độ phần nhiều luận về sự tướng, ít dạy đến quán môn, nên Đại sư y cứ nơi bộ “Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ” của Tổ Trí Giả, mà soạn thành bộ “Diệu Tông Sao”. Dưới đây là lược đoạn thích đề của bộ ấy : “Quán, là mười sáu quán, thuộc năng quán trí, Vô Lượng Thọ Phật là cương yếu của sở quán cảnh, nhiếp cả mười lăm cảnh. Năng quán đều là nhứt tâm tam quán, sở quán đều là nhứt cảnh tam đế, Tỳ Lô Giá Na khắp tất cả chỗ, tất cả pháp đều là Phật pháp. Phật là tánh đức của chúng sanh, phi tự phi tha, phi nhơn phi quả, chính là thể viên thường đại giác. Nên trong Luận Khởi Tín nói : Giác nghĩa là nói tâm thể ly niệm. Ly niệm tướng thời khắp hư không giới, không đâu chẳng khắp, pháp giới nhứt tướng chính là Như Lai thường trụ pháp thân. Y cứ pháp thân này mà gọi là bổn giác.

Cho nên biết rằng thể của Phật quả viên minh, là tánh đức bổn cụ của phàm phu chúng ta. Vì thế nên tất cả Kinh giáo luận về hành pháp đều là hiển bày giác thể này. Cho nên bốn môn Tam muội đồng gọi là niệm Phật([1]). Dầu đồng là niệm Phật, mà chính là hiển Phật thể. Riêng về mười sáu quán môn này cùng với Bát chu Tam muội, thời gá nơi cảnh y báo và chánh báo của Cực Lạc thế giới, dùng quán trí vi diệu chuyên ở nơi Đức Phật A Di Đà mà hiển thể chơn thật. Dầu gá vào cảnh Tịnh Độ mà nên biết rằng y báo và chánh báo ấy đồng ở nơi nhứt tâm. Tâm tánh trùm khắp, không pháp nào là không tạo, không pháp gì là không đủ. Nếu có một mảy ở ngoài tâm, thời chẳng gọi là Đại thừa quán vậy. Ở đoạn trước nói tâm tánh đủ tất cả pháp, tạo khắp tất cả, thiệt ra thời vốn không năng không sở, tức tâm là pháp, tức pháp là tâm, nhân duyên năng tạo cùng pháp sở tạo, mỗi mỗi thảy đều là tâm tánh. Cho nên hay quán tưởng, hoặc y báo Cực Lạc, hay chánh báo Di Đà, bèn là pháp giới tâm quán lấy pháp giới cảnh, sanh nơi pháp giới y báo sắc tâm. Đây thời gọi là : duy y, duy chánh, duy sắc, duy tâm, duy quán, duy cảnh. Cho nên giải chữ quán thời dùng nhứt tâm tam quán, giải Vô Lượng Thọ thời dùng nhứt thể tam thân. Thể Tông Lực Dụng về nghĩa đều là Viên, phán giáo thuộc Đốn. Xin nói với người tu hành, quán pháp dầu là thâm diệu, nhưng vốn là để lợi ích cho hàng sơ tâm. Nếu có thể tấn công lo gì không thành. Túng sử chưa được nhập phẩm nhưng làm nhơn cũng mạnh, sanh về Tịnh Độ đặng dự đại hội, bèn thấy y báo cùng chánh báo vi diệu bất tư nghị mau chứng quả Thánh, độ sanh rất rộng. Huống chi hiện tại đây trần cảnh thô cường thiệt là chốn nguy hiểm. Nên phải : ngoài thời tu sự sám, trong thời chuyên lý quán, đồng thời thực hành cả chánh hạnh và trợ hạnh, lại thêm phát nguyện tha thiết, lập điều ước để tự kiềm chế. Quyết định ở nơi Tịnh Độ mau chứng quả vô sanh. Nay giải quán môn, ý nghĩa như thế”.

Ngoài ra các bộ luận sớ khác của Đại sư soạn thuật đều chỉ quy Tịnh Độ cả.

Nhơn ngày lễ Phật Đản, Đại sư lập hội phóng sanh, nhóm chúng tác pháp thả những chim cá. Nhà đương cuộc tâu việc ấy lên vua, triều đình truyền chỉ cho quan Khu Mật Lưu Quân soạn bài văn khắc vào bia đá dựng trong chùa.

Năm Thiên Khánh thứ 6, Đại sư sắp nhập diệt bèn lập đàn Quang Minh Sám bảy ngày. Sám đến ngày thứ năm, Đại sư ngồi kiết già họp chúng thuyết pháp xong, vụt tự xướng to A Di Đà Phật vài trăm câu, rồi yên lặng mà viên tịch, thọ 69 tuổi. Để khánh trần 7 ngày, móng và tóc ra dài thêm. Lúc trà tỳ, cái lưỡi không cháy, đỏ hồng như cánh sen.

Trích ở bộ : Tứ Minh Giáo Hạnh Lực

Quán Kinh Sớ Sao, Phật Tổ Thống Kỷ

II - HUỆ MẠNG

Huệ Mạng Pháp sư họ Quách, người Thái Nguyên. Sau khi xuất gia ngài chuyên tu Phương Đẳng Sám và Phổ Hiền Sám. Ngài theo thọ giáo với Ấn Quang Thiền sư và Tiên Lộ Thiền sư. Về sau ngài đến Tiên Thành Sơn. Núi này trước đây có đạo sĩ Mạnh Thọ kính mộ Phật giáo, muốn cúng Quán viện của mình để sửa làm chùa tháp. Khi Huệ Mạng Pháp sư sắp đến núi, ông Mạnh Thọ mơ màng thấy chư Thần nghiêm vệ bên cạnh viện, ông chợt tỉnh thì Pháp sư đến cửa, ông liền cúng Quán viện ấy sửa làm chùa Thiện Quang, đại chúng lần lượt hội về. Không bao lâu, Pháp sư trở lại cố lâm rồi cùng bạn đồng chí là Pháp Âm Thiền sư đồng đến chùa Quả Nguyện ở Trường Sa, chỗ cũ của Huệ Năng Thiền sư, mà tu học thiền định, ít lúc sau lại dắt nhau trở về Tiên Thành Sơn.

Năm năm sau, hai người tự biết trước ngày giờ, dắt tay nhau cùng đi đến rừng tòng ngó nhau cười rằng : “Có thể trọn ở nơi đây !”. Thị giả nghe nói thế, nhưng chưa hiểu. Không đầy tuần nhật, hai người đồng thời nhuốm bệnh. Nhà Chu, năm Thiên Hòa thứ 3, ngày mùng 5 tháng 11, Huệ Mạng Pháp sư ngồi kiết già xoay mặt về hướng Tây mà niệm Phật. Đại chúng đồng thấy Phật A Di Đà hiện đến, Pháp sư liền chắp tay mà tịch. Có tiếng xướng : “Thiện tai !”. Hương thơm ngào ngạt cả chùa, tiếng thiên nhạc vang dậy cả hư không.

Ngày 17 tháng ấy, Pháp Âm Thiền sư cũng đoan tọa xoay mặt về hướng Tây niệm Phật mà tịch. Phật hiện, hương thơm, thiên nhạc v.v… đồng như lúc Huệ Mạng Pháp sư viên tịch, và đồng 38 tuổi.

Đại chúng xây tháp hai ngài ở rừng tòng

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

III - TĂNG TẠNG

Tăng Tạng Hòa thượng người Tây Hà xuất gia từ thuở bé. Ngài hạ mình thờ người, cung kính tất cả, không từ lao khổ. Thấy y cũ của các Sư, ngài bèn lén đem giặt và nhíp vá giùm. Thường cởi áo ngồi trong cỏ thí máu cho muỗi mòng. Mỗi ngày niệm Phật vô số, tinh tấn không bê trễ. Đến lúc lâm chung, chư Thiên tử cõi thấp đến cõi cao trước sau đến rước, Hòa thượng đều khước từ. Yên lặng giây lát, Hòa thượng bảo đại chúng rằng : “Vừa rồi tôi qua Tịnh Độ thấy chư thượng thiện nhơn rải hoa trên hư không”. Dứt lời, Hòa thượng chắp tay niệm Phật mà tịch.

Trích ở bộ Tống Cao Tăng Truyện

IV - ĐẠO KIỆT

Đạo Kiệt Pháp sư họ Dương người Hà Đông năm 20 tuổi xuất gia thọ cụ túc, kế qua Thanh Châu nghe Hà Ký Luận sư giảng Thành Thật Luận. Sau khi Luận sư tịch, ngài đi các nơi tham học tạng Luận và từng khai giảng ở nhiều nơi.

Một hôm ngài tự xét : “Luống đeo theo ngôn thuyết, tâm tánh mê mờ. Đến như chánh huệ không nhờ chánh định thời không phát !”. Ngài bèn thôi giảng, qua học thiền với Chơn Huệ Thiền sư ở Ma Cốc, ngài thâm nhập duyên khởi, Thiền sư khen là lợi căn.

Ngài bẩm tánh ít nói, thiểu dục, không quan tâm đến cảnh khổ cũng như cảnh vui.

Về sau ngài làm Tăng chủ chùa Thê Nham.

Năm Trinh Quán nguyên niên, ngày 28 tháng Bảy, ngài nhuốm bệnh nhẹ, đình giảng mà tịch. Cả chùa đồng nghe mùi hương lạ và thiên nhạc. Cũng chính ngày này, hai người con gái ông Phan Xước, một cư sĩ bạn của Pháp sư, đồng mơ thấy ông Xước ngồi tòa sen trên hư không bảo rằng : “Cha đã vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, nay đến rước Đạo Kiệt Pháp sư”. Rồi ông bay thẳng về phía chùa Thê Nham. Lúc Pháp sư tịch, đại chúng thấy ông Xước hiện thân đứng trên không.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

V - THẦN TỐ

Thần Tố Luận sư họ Vương, người Hà Đông, pháp hữu của Đạo Kiệt Pháp sư. Lúc Đạo Kiệt Pháp sư đình giảng đi học thiền, thì Luận sư giảng thế. Năm Trinh Quán thứ 2, Luận sư làm Tăng chủ ở Thê Nham. Tất cả công hạnh tự hành hóa tha, Luận sư đều hồi hướng trang nghiêm Cực Lạc Tịnh Độ.

Năm Trinh Quán thứ 17, ngày 23 tháng Hai, Luận sư họp đại chúng để từ biệt, rồi đoan tọa bảo đại chúng đọc Kinh Quan Âm hai biến, Luận sư chắp tay chăm chỉ nghe, rồi tự niệm sáu câu A Di Đà Phật. Luận sư lại bảo trong chúng một người xướng còn bao nhiêu thời hòa theo. Như vậy mãi đến tối, Luận sư vẫn nghiêm nhiên ngồi ngay thẳng. Chúng đến gần xem kỹ, thì ra ngài đã đi từ nào rồi. Đêm ấy Trí Khoan Pháp sư ở chùa Nhơn Thọ đương lúc tịnh tọa, thấy Luận sư đến cáo biệt, còn dặn gắng hộ trì Chánh pháp để báo ân Phật. Sáng ngày Pháp sư mới được tin Thần Tố Luận sư đã viên tịch hồi chiều qua.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

VI - MINH CHIÊM

Minh Chiêm Đại sư họ Đỗ, người Hằng Châu. Thuở trẻ, ngài có chí xuất thế, bỏ khoa cử, xuất gia tại chùa Ứng Giác ở Phi Long Sơn. Triều Tùy, ngài ở kinh sư thường chủ nhiều pháp tòa. Có được của thí riêng, ngài cúng dường cho chư Tăng và thơ tả các Kinh luận Đại thừa. Ít lúc sau ngài vào ẩn tại chùa Trí Cự trong núi Thái Ất. Tuổi già, ngài khắc chí Cực Lạc. Có người chê ngài là muộn. Ngài bảo : “Thập niệm công thành còn được thấy Phật thay, tôi nào có lo gì muộn !”.

Đầu niên hiệu Trinh Quán, vâng chiếu vào nội điện, ngồi ngự sàng, sau khi thọ trai xong, Đại sư giảng rộng về thuật trị nước của bậc minh quân, dùng lòng từ hộ sanh làm gốc. Nhà vua bằng lòng lắm, liền hạ chiếu truyền khắp cả nước : Mỗi năm trong ba tháng lớn, mỗi tháng trong sáu ngày trai, nghiêm cấm giết thịt, và truyền dựng lập nhiều chùa ở các nơi.

Tháng Mười năm Trinh Quán thứ 2, nhuốm bệnh, Đại sư tự biết trước ngày giờ, bèn đến chùa Hưng Thiện ở kinh, thiết trai để từ biệt đại chúng, lúc đó các quan Phụ tướng như Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hồi đều có dự trai. Liền trong ngày đó, Đại sư trở về chùa Trí Cự, ngày đêm tưởng niệm Tây phương chuyên cần chẳng hở. Ngày 27 tháng Mười, Đại sư bỗng gọi thị giả mà bảo : “Phật đã đến”. Giây lát lại nói : “Hai vị Bồ Tát cũng đến ! Tôi ở nơi Quán Kinh thành tựu pháp quán thứ 12. Nay Phật và Bồ Tát đến rước tôi về Tịnh Độ”. Nói xong Đại sư chắp tay vui vẻ mà tịch. Thọ 70 tuổi.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

VII - KHẮC CẦN

Sư Khắc Cần họ Trương, người Hồ Nam, từ bé tánh khờ khạo. Năm hai mươi ngoài tuổi, sư xuất gia tại am Hồng Thế ở Thiện Hóa, rồi thọ Cụ túc giới ở Lộc Sơn. Sư không biết chữ, học mấy thời khóa tụng ngót 5 năm mới thuộc. Sau đó trọn 10 năm, Sư đi khắp ngũ nhạc, tứ sơn, và các đại tòng lâm để tham học, nhưng rốt cuộc không thông hiểu một mảy gì, vẫn khờ khạo như cũ.

Đến năm 60 tuổi, Sư nghe Minh Quả Pháp sư giảng về công đức của pháp môn trì danh niệm Phật, quý tại “nhứt tâm bất loạn”. Nếu tán loạn, nên chăm chú nghe kỹ tiếng niệm, thời tạp niệm sẽ tự trừ, vọng tưởng sẽ tự diệt, tâm sẽ đặng thanh tịnh v.v… Từ đó Sư mới được biết pháp môn niệm Phật, bèn chuyên tu.

Sáu năm thời tánh cũ của Sư đều mất, tâm hằng tự tại minh mẫn. Lúc rảnh, Sư thường bảo người rằng : “Tu hành quý tại “nhứt tâm bất loạn”. Nghiệp chướng của tôi do niệm Phật mà tiêu sạch. Mấy năm gần đây, chẳng những không phiền não, mà thân tâm đều được khinh an”.

Một hôm, Sư cho người đi mời sư huynh Hàm An. Qua ngày kế, Hàm An đến Sư vừa thấy liền cười nói : “Khắc Cần này xin cáo từ sư huynh !”. Hàm An hỏi : “Tính đi đâu ?”. Sư đáp : “Đi Tây phương Cực Lạc thế giới”. Hàm An bảo : “Nói khùng phải không ?”. Sư nói : “Từ sáu năm gần đây, tâm tôi không loạn động, niệm A Di Đà, câu rõ ràng, mục kích Tịnh Độ, tự biết ngày giờ quyết định vãng sanh. Chẳng phải khi dối vậy !”. Sư liền đem tất cả công sự trong am giao phó cho Hàm An, rồi lại bảo : “Giờ ngọ ngày mai, tôi sẽ từ biệt sư huynh. Anh em già với nhau, tất phải lo cho nhau. Sư huynh nên gắng chuyên tu pháp môn niệm Phật để chuẩn bị tư lương Tịnh độ”. Chiều hôm ấy, Sư ngồi một mình niệm Phật không nói chuyện.

Sáng hôm sau, Sư tắm gội thay y phục, thắp hương lễ Phật, tạ Tổ xong, Sư vẫn vào tịnh thất ngồi niệm Phật. Đến giờ ngọ, Sư mới chậm rãi đi vào ngồi kiết già trong khánh, tay cầm chuỗi yên lặng niệm Phật. Mãi đến hai giờ sau, Hàm An thấy đã lâu mà không thấy Sư động tịnh, bèn lại gần thăm xem thì ra Sư đã tịch rồi. Chừng đó mới cả kinh mà tin thật, và đồng thời cùng với các sư Phổ Ấm v.v… đều nghe mùi hương lạ. Lúc đó là ngày mùng 5 tháng Bảy năm Tân Sửu, triều vua Quang Tự nhà Thanh. Bấy giờ nhằm tiết trời nóng nực, đình khánh bảy ngày mà thi hài vẫn không sình nứt. Những người mục kích đều khen là lạ ít có.

Trích ở tập Cận Đại Vãng Sanh Truyện

VIII - TRI HUYỀN

Tri Huyền Đại sư, họ Trần, tự Hậu Giác, người My Châu. Năm lên bảy, Đại sư nghe giảng Kinh Đại Niết Bàn tại chùa Ninh Di, liền thông thuộc như từng đã học nhuần từ trước. Đêm ấy, Đại sư mơ thấy tay Phật xoa đầu mình. Năm 11 tuổi xuất gia, phàm được học đến bộ Kinh bộ sớ nào, Đại sư đều thông đạt cả. Năm 13 tuổi, Đại sư lên pháp tòa giảng diễn, các hàng Tăng và tục đều kính phục.

Triều vua Hi Tông nhà Đường phụng hiệu Ngộ Đạt Quốc sư, ban tòa trầm hương. Không bao lâu, trên gối của Đại sư mọc ghẻ mặt người đau nhức lắm, không thuốc gì trị được. Mấy năm về trước Đại sư từng tận tâm săn sóc một ông Tăng có bệnh nặng. Lúc từ giã đi nơi khác, ông Tăng ấy dặn Đại sư nếu sau này có nạn khổ nơi thân, thời nên đến tìm ông tại núi Cửu Long ở đất Thục. Bấy giờ Đại sư nhớ lại lời dặn ấy, và tìm gặp ông Tăng tại núi Cửu Long. Ông Tăng cho một đồng tử dắt Đại sư đến một lạch suối để rửa ghẻ. Khi sắp sửa rửa, mụn ghẻ 
mặt người bỗng lên tiếng bảo khoan rửa và nói rằng : “Ông từng đọc khắp các kinh sử, chắc ông biết việc Viên Ưởng giết Triều Thố thời nhà Hán chứ ? Ông chính là Viên Ưởng còn ta là Triều Thố. Ta đời đời theo sát bên ông để báo oán. Song vì ông luôn mười đời làm cao Tăng giới hạnh tinh nghiêm nên hại không được. Mấy lúc gần đây, ông được nhà vua và mọi người kính trọng, vinh hiển thái quá, nên ta mới có dịp mà làm khổ ông. Hôm nay nhờ Ca Nhã Ca Tôn giả dùng nước Tam muội rửa ta, ta không theo làm hại ông nữa”. Đại sư khoát nước rửa ghẻ, ghẻ liền lành.

Từ ngày ấy, Đại sư tự răn trách tâm niệm danh vị của mình, làm văn Thủy Sám trừ tội chướng, tinh nghiêm giới luật, thiểu dục tri túc. Đại sư tự xét ở Ta Bà khó thành nhẫn lực nên ngày đêm sáu thời tinh tấn hành đạo cầu sanh Cực Lạc. Một hôm, bỗng nghe trên không có tiếng xướng to rằng : “Chắc đặng vãng sanh Tịnh Độ !”. Đại sư liền hỏi là tiếng ai nói. Trên không đáp : “Phật đấy !”.

Một bữa khác, Đại sư lại thấy một vị Bồ Tát giáng lâm cặn kẽ khuyên nhắc. Giờ lâm chung Đại sư dặn đem thây mình bỏ nơi bãi biển để thí cho chim cá; Đại sư lại bảo mọi người : “Từ lâu tôi mong được về Tây phương Tịnh Độ, bây giờ, chính là lúc được mãn nguyện !”. Dứt lời, Đại sư xoay mặt về hướng Tây mà tịch. Thọ 73 tuổi.

Trích ở các bộ : Tống Cao Tăng Truyện

Thần Tăng Truyện

IX - TỰ GIÁC

Tự Giác Đại sư người Bác Lăng, thuở nhỏ xuất gia tại chùa Khai Nguyên. Về sau Đại sư qua học Kinh luật luận ở chùa Thiên Pháp. Cần mẫn trọn chín năm, thông suốt cả Tam tạng. Đại sư qua ở núi Trùng Lâm tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một bữa rau trái sơ sài.

Gặp năm đại hạn, quan Tiết Đại Sứ ở Hằng Dương nghe đạo hạnh của Đại sư bèn đích thân vào núi thỉnh Đại sư cầu mưa. Đại sư chí thành cầu Long thần, mưa liền xối xuống. Từ lâu Đại sư có ý muốn đúc tượng Quan Thế Âm. Sau ngày cầu mưa, thí chủ các nơi họp công của đến, đúc tượng Quan Thế Âm bằng đồng cao bốn mươi chín thước, tướng hảo uy nghiêm. Qua năm sau, chùa điện cũng lạc thành.

Đại sư bèn ở trước bửu điện lập thệ nguyện sớm vãng sanh Cực Lạc. Canh ba đêm ấy, thoạt có hai đường kim quang chiếu đến. Đức A Di Đà Phật từ trong ánh sáng vàng bước xuống. Quan Thế Âm Bồ Tát theo hầu bên tả, Đại Thế Chí Bồ Tát theo hầu bên hữu. Đức Phật đưa cánh tay vàng xoa đầu Đại sư mà bảo rằng : “Gìn chí nguyện chớ có đổi, độ người làm trước. Đài sen nơi ao báu, ông sẽ được thác sanh !”.

Năm Trinh Nguyên thứ 11, nhà Đường, đêm Rằm tháng Hai, Thiên thần hiện nửa mình trên không, cúi xuống nói với Đại sư rằng : “Ngài đã gần đến kỳ về Tịnh Độ !”. Đại sư đưa tay lên tạ thần. Đến ngày 14 tháng Sáu, Đại sư ngồi kiết già trước tượng Quan Thế Âm mà tịch. Từ khi Đại sư viên tịch về sau, tượng Quan Thế Âm ấy thường hiện nhiều việc rất linh ứng.

Trích ở những bộ Tống Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

X - THIỆN ĐIỆU

Thiện Điệu Đại sư người Lâm Tuy, từng vào trước Đại Tạng Kinh chí thành rút lấy một tập, nhằm quyển “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh”. Từ đó trở đi, Đại sư chuyên tâm niệm Phật, tu thập lục diệu quán. Đến khi qua Lô Sơn, được thấy di tích của Huệ Viễn Đại sư, chí nguyện của ngài càng thêm tha thiết. Ít lúc sau, Đại sư vào ẩn ở núi Chung Nam tu Bát Chu Tam muội vài năm, cảm bửu lâm bửu trì luôn hiện trước mặt. Rồi Đại sư qua Tấn Dương học Vô Lượng Thọ Kinh nơi Đạo Xước Thiền sư. Thường khi Đại sư nhập định bảy ngày mới xuất. Đạo Xước Thiền sư thỉnh xem chỗ sanh của mình. Đại sư bảo rằng : “Thiền sư phải sám hối ba tội mới được vãng sanh. Thiền sư từng để tượng Phật bên cửa sổ còn mình thời tự ở giữa nhà, đây là tội thứ nhứt, phải đối Phật mà sám hối. Sư lại thường sai khiến người xuất gia, đây là tội thứ hai, phải đối chư Tăng sám hối. Lại vì xây dựng nhà cửa làm tổn hại nhiều côn trùng, đây là tội thứ ba, phải đối tất cả chúng sanh mà sám hối”. Xước Thiền sư nghe xong bèn tự xét nhớ kỹ lại những lỗi của mình, rồi chí tâm sám hối. Ít lâu sau, một hôm xuất định, Đại sư bảo Xước Thiền sư rằng : “Sư đã sạch tội. Ngày sau, bao giờ có bạch quang chiếu đến, đó là triệu chứng vãng sanh !”.

Đại sư đến kinh sư giáo hóa, người quy hướng rất đông. Một ngày nọ nhuốm bệnh nhẹ, Đại sư kiết thất chuyên ròng hành đạo, rồi vui vẻ niệm Phật mà tịch. Mọi người đồng nghe thiên nhạc dị hương từ thất của Đại sư lần đi thẳng về hướng Tây.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

XI - ĐẠI HẠNH

Đại Hạnh Pháp sư người Tế Châu, học Thiên Thai giáo quán rồi vào ở núi Thái Sơn, bện cỏ che thân, lượm trái đỡ dạ. Tu Pháp Hoa Tam muội cảm đức Phổ Hiền hiện thân. Một hôm, ngài tự than rằng : “Mạng người vô thường, giờ chết không lâu. Ta sẽ đi về đâu ?”. Pháp sư vào trước Đại Tạng Kinh chí thành cầu nguyện. Rút nhằm bổn Kinh Di Đà. Bắt đầu ngày ấy, Pháp sư liền chuyên tâm niệm Phật, 21 ngày sau, đương lúc giữa đêm, bỗng tâm nhãn rỗng sáng thấy cõi đất lưu ly, lại thấy Đức A Di Đà Phật và hai vị Bồ Tát hiện thân đứng trên không. Từ đó đạo hạnh của Pháp sư mỗi ngày mỗi truyền rộng. Vua Hi Tông phụng hiệu là “Thường Tinh Tấn Bồ Tát”.

Qua năm sau, cõi lưu ly lại hiện. Pháp sư bảo đại chúng rằng : “Hôm nay bửu địa lại hiện. Đã tới ngày tôi về Cực Lạc !”. Và trong ngày ấy Pháp sư xoay mặt về hướng Tây, chắp tay mà tịch.

Trích ở Tống Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

XII - CHÍ THÔNG

Chí Thông Đại sư người Phụng Tường. Khi mới xuất gia, ngài gặp Tam Tạng Pháp sư Phạ Nhật Ra truyền Mật tông, bèn theo thọ giáo. Về sau, ngài đến Thiên Thai, khi xem xong tập “Tịnh Độ Linh Thoại”, ngài phát nguyện cầu sanh Cực Lạc.

Từ ngày đó trở đi, không bao giờ ngài khạc nhổ về hướng Tây, không bao giờ ngồi xoay lưng về hướng Tây.

Một hôm, ngài leo lên mỏm đá Chiêu Thú tụng 48 điều nguyện cầu mau được sanh Cực Lạc thế giới, rồi gieo mình xuống. Thân ngài rơi nhằm trong lùm cây, lá rậm nhánh mềm nên không hề gì. Ngài sửa y áo leo lên mỏm đá mà thệ rằng : “Đã phát đại nguyện, thân sống thừa này đáng nhàm. Cúi mong Thánh chúng đến tiếp dẫn tôi !”. Rồi ngài lại nhảy xuống, thân nằm trên cỏ, giây lát tỉnh lại. Tăng chúng tìm gặp dìu về chùa. Không bao lâu ngài qua núi Pháp Hoa chuyên tu Tịnh Độ. Về sau một ngày nọ thấy Bạch hạc Khổng tước đáp xuống cả đàn, lại thấy hoa sen búp nở trước mặt, ngài nói : “Bạch hạc và Khổng tước là cảnh Tịnh Độ. Hoa sen báu là chỗ thác sanh. Giờ đã đến !”. Đại sư nghiêm chỉnh oai nghi lễ Phật mà tịch. Khi trà tỳ, mây tốt năm màu che trùm trên ngọn lửa, và xá lợi hiện đầy thân.

Trích ở những bộ Tống Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

XIII - ĐOAN PHỦ

Đoan Phủ Đại sư người Thiên Thủy, xuất gia nơi Đạo Ngộ Thiền sư ở chùa Sùng Phước. Sau khi thọ Cụ túc giới, Đại sư đi cầu học Luận tạng khắp các nơi, đồng thời nghiên cứu cả Kinh và Luật. Một đêm nọ, Đại sư mơ thấy Thánh Tăng trao cho một bình lưu ly đựng đầy Xá lợi bảo nuốt. Đại sư vâng lời nuốt hết Xá lợi, Thánh Tăng nói : “Tam Tạng đại giáo chứa cả trong bụng ông !”. Từ đó trở đi, Đại sư được biện tài vô ngại. Giảng Kinh ở Thái Nguyên, thính giả hội đến như chợ. Cả ba triều vua nhà Đường : Đức Tông, Thuận Tông và Hiến Tông đều tôn ngài làm bậc thầy. Trước sau Đại sư giảng Niết Bàn Kinh và Duy Thức Luận hơn một trăm sáu mươi hội. Mỗi ngày, giờ rảnh Đại sư đọc tụng Đại thừa Kinh cầu sanh Tịnh Độ. Được cúng thí rất nhiều, kể hơn mấy mươi triệu lượng bạc, Đại sư đều chuyển cúng vào các công vụ sửa dựng chùa tháp, còn mình thời vẫn vừa lòng với một cái thất nhỏ đơn sơ cùng một chiếc giường hẹp thấp thôi.

Năm Khai Thành nguyên niên, ngày mùng một tháng Sáu, Đại sư xoay mặt về hướng Tây nằm nghiêng tay hữu mà tịch. Giờ đó, mùi hương lại thơm ngát cả gần xa. Sau khi trà tỳ được hơn ba trăm hột Xá lợi.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

XIV - HÙNG TUẤN

Hùng Tuấn Pháp sư họ Châu, người Thành Đô, giảng diễn giỏi, nhưng không giới hạnh. Pháp sư từng thôi tu đi lính, rồi xuất gia làm Tăng lại. Tự xét biết lỗi, nên Pháp sư thường niệm A Di Đà Phật cầu tiêu tội vãng sanh.

Năm Đại Lịch nhà Đường, một hôm bỗng ngã ra chết, bị bắt dẫn đến Diêm Vương, Vương kể tội phá trai phạm giới v.v… rồi truyền quỷ sứ giải vào địa ngục. Pháp sư liền tiếng kêu rằng : “Trong Quán Kinh có nói : “Người phạm tất cả điều ác, nhẫn đến tội ngũ nghịch, đến lúc lâm chung chí thành niệm Phật trong mười niệm, mỗi niệm diệt vô lượng tội, liền được vãng sanh”. Hùng Tuấn này dầu có tội nhưng chưa phạm đến ngũ nghịch, mà lại đã có lòng ăn năn niệm Phật vô số. Tôi dầu có bị đọa vào địa ngục cũng không ân hận gì, nhưng có lẽ nào lời Phật thành vọng ngữ !”.

Diêm Vương bảo cho về, nhơn đó Pháp sư được sống lại bèn vào ở Tây Sơn, ngày đêm chuyên chí niệm Phật.

Bốn năm sau, một hôm Pháp sư họp đại chúng lại để từ biệt và dặn rằng : “Xin nói với những thân hữu của tôi ở dưới thành rằng Hùng Tuấn nhờ chuyên tâm niệm Phật mà được vãng sanh, chớ không phải là kẻ tội lọt lưới”. Dặn xong, Pháp sư đoan tọa vui vẻ mà tịch.

Trích ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

XV - DUY CUNG

Sư Duy Cung, người Kinh Châu, thân xuất gia mà thích rượu thịt và bài bạc. Lúc rảnh thời Sư tụng kinh niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Sư Linh Quy, một ông Tăng ở cùng chùa, với Sư Duy Cung là bạn đồng chí đồng hạnh, vì thế nên người lân cận có tặng hai Sư một bài kệ để khuyên răn : “Linh Quy phạm giới hạnh, Duy Cung noi dấu bạn. Địa ngục ngàn muôn từng, chớ trách xô đầu vào”. Sư Duy Cung nói : “Tôi thiệt có tội đành vậy. Nhưng mong nhờ Phật lực thập niệm vãng sanh, đâu có lẽ lại bị đọa vào ác đạo ư !”.

Một hôm, Sư Duy Cung nằm bệnh, Sư Linh Quy có công vụ phải đi, dọc đường gặp hai người trai trẻ tướng tốt tay cầm nhạc khí. Sư Linh Quy hỏi là đi đâu. Hai người đáp là từ phương Tây đi rước Cung thượng nhơn. Một người thò tay vào bọc lấy ra một hoa sen búp bằng nắm tay, cánh hoa tỏa ánh sáng đẹp lạ, rồi hai người đi thẳng về phía chùa. Qua ngày sau, Sư Linh Quy về chùa thời mới hay Sư Duy Cung đã từ trần vào giờ gặp hai người trai trẻ hôm qua. Từ đó Sư Linh Quy ăn năn chừa lỗi giới hạnh tinh nghiêm, ít lúc sau nổi tiếng là một vị Tăng chơn tu thiệt đức.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ  

B 3 - CHƯ SƯ NI

 I - LÃO NI

Hồ Thượng Lão Ni tinh nghiêm giới luật, hằng ngày niệm Phật tụng kinh rất thành khẩn. Có một Đạo nhơn mỗi năm đến viếng am một lần, khi đến cùng Lão Ni luận việc đạo hạnh tu hành suốt ngày mới từ đi.

Một hôm, Lão Ni hẹn trước với Đạo nhơn. Đến ngày hẹn chờ không thấy Đạo nhơn tới, Lão Ni nói : “Tôi sắp về Tịnh Độ muốn từ biệt ông bạn ấy”. Chờ thêm vài ngày, Đạo nhơn vẫn không đến. Lão Ni bảo người khiêng cái khánh đã đóng sẵn để trên cây cầu gãy ở gần am. Lão Ni tay cầm một cây nhang nhỏ, ung dung vào ngồi trong khánh lên tiếng niệm Phật. Giây lát lửa vụt phát cháy nơi thân Lão Ni. Người tựu đến xem đông như hội chợ. Mãi đến lúc cả mình cháy đen cả mà tiếng niệm Phật của Lão Ni vẫn chưa dứt.

Trích ở tập Âm Chất Văn Chú Thích

của Hà Sĩ Viên

II - TOẠI KHÂM

Sư Ni Toại Khâm, người Vô Tích, xuất gia thuở mới lên chín. Khi tuổi trưởng thành, gặp một Sư Ni khuyến khích chuyên trì hồng danh của Phật, cô liền phát tâm tinh tấn niệm Phật. Ít lúc sau, cô làm trụ trì am Bạch Y ở Tô Châu, công phu niệm Phật càng chí thiết đến 50 tuổi, cô mới thọ Cụ túc giới.

Tháng Ba năm cô được 55 tuổi, một đêm nọ, gà vừa gáy hiệp đầu, cô kêu đệ tử đến mà nói : “Tôi sắp về Phật !”. Các đệ tử đều khóc thưa : “Thầy không bệnh hoạn chi, sao lại nỡ nói như thế !”. Cô bảo : “Sao ngu si thế ! Khóc lóc có ích lợi gì. Nên tinh tấn niệm Phật thôi !”. Rồi cô ngồi kiết già xoay mặt về hướng Tây cùng các đệ tử đồng thanh niệm Phật, khi tàn một cây hương thời cô tịch. Bấy giờ nhằm năm Càn Long thứ 53.

Trích ở Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm

III - LUẬT TÔN

Ni Sư Luật Tôn người Gia Định, ba tuổi mẹ mất, bà nội dắt cô đến am Viên Thông lễ Phật, cô đòi quyết ở lại đó. Lúc bé cô thích lễ Phật. Lớn lên chuyên tụng Kinh Pháp Hoa nhưng khổ nỗi không rõ nghĩa. Cô bèn đến Kim Sơn và Sùng Phước tham cứu mấy năm. Sau khi trở về am Viên Thông, cô chuyên tâm niệm Phật. Mỗi năm cô thường đến các tòng lâm cúng Phật trai Tăng.

Năm 53 tuổi, mang bệnh ho, cô cấm túc chuyên tu, lấy vãng sanh làm hẹn.

Rằm tháng Giêng năm 64 tuổi, cô họp chúng đồng thanh niệm Phật, đến mặt trời chính bóng, cô ngó chúng tha thiết khuyên bảo dũng mãnh tu hành, rồi cô chắp tay ba lần xướng “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật”. Xướng xong, cô đoan tọa mà tịch. Lúc đó hương sen thơm ngát cả am. Bấy giờ nhằm năm Càn Long thứ 55.

Trích ở Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm

IV - PHẬT KỲ VÀ LIÊN HƯƠNG

Sư Ni Phật Kỳ, người Thường Châu. Từ nhỏ cô chẳng chịu lấy chồng. Lớn lên mẹ cô đưa đến am Vũ Hoa xuống tóc, rồi thọ Cụ túc giới. Về sau, cô trụ trì am Sùng Phật ở trong thành. Cô quyên tiền trổ tượng Tây phương Tam Thánh bằng gỗ chiên đàn cao 8 thước. Mỗi năm cô thỉnh chư Sư Tăng giới đức thanh tịnh đến am kiết thất kỳ, làm hội niệm Phật. Cô thường đi đến các tòng lâm cúng Phật và trai Tăng. Cô tậu 30 mẫu ruộng để làm của thường trụ cho chùa Thiên Ninh ở Thường Châu. Về sau cô cấm túc nơi am chuyên tu tịnh nghiệp.

Trước khi tịch ba ngày, cô thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân với hai vị đồng tử theo hầu. Trong khi đó có người nói là nghe mùi hoa cúc. Cô bảo đó là hương của hoa sen xanh. Ngày 30 tháng Tám, năm Càn Long thứ 56, có Ưu bà di đến thăm, cô bảo đỡ cô ngồi dậy, rồi họp Ni chúng niệm Phật được chừng hai nghìn câu thời cô tịch.

Trích ở Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm

Mục kích cô Phật Kỳ chánh niệm vãng sanh. Sư Ni Liên Hương phát tâm tinh tấn niệm Phật. Năm cô được 30 ngoài tuổi, dầu bệnh, nhưng sức niệm Phật của cô càng bền. Một ngày nọ, cô xoay mặt về hướng Tây đoan tọa chắp tay niệm Phật mà tạ thế. Bấy giờ nhằm năm Gia Khánh thứ 13.

Trích ở Nhiễm Hương Tập

V - LÃNG NHIÊN

Sư Ni Lãng Nhiên, người Gia Thiện, năm 18 tuổi, cô thấy sự khổ của người chị dâu bị sản nạn, cô tự thệ không lấy chồng, rồi cô xin với cha mẹ cho xuất gia ở am Tịnh Trì. Sau khi thọ giới, cô chuyên chí tu Tịnh độ. Tinh tấn niệm Phật trong nhiều năm, được niệm lực tương tục, lúc rảnh lúc bận, nơi tâm cô câu Phật đều không gián đoạn.

Năm Gia Khánh thứ 13, cô bảo đệ tử là Sư Ni Phước Duyên rằng : “Trong ba tháng gần đây, tôi ba phen mơ thấy mình ngồi kiết già trong hoa sen nơi bảo trì. Tôi sắp vãng sanh ! Con phải dốc chí niệm Phật. Nhơn thiệt thời tự nhiên quả chắc, công phu không luống uổng. Gắng nhớ chớ quên !”. Ngày 25 tháng 3, cô không bệnh, đoan tọa mà tịch, thọ 71 tuổi.

Trích ở Nhiễm Hương Tập

C 3 - CHƯ TÍN SĨ

 I - VƯƠNG CỔ

Ông Vương Cổ tự Mẫn Trung, người Đông Đô, tức là chắt của Tướng quốc Vương Văn Đán. Nhà ông Cổ trì giới bất sát đã được bảy đời. Ông Cổ lại phát tâm phóng sanh đến một trăm vạn sanh mạng. Ông đến Giang Tây tham cứu thiền lý với Hối Đường và Vương Kỳ hai vị đại Thiền sư. Sau khi trở về, ông trứ tác bộ “Tịnh Độ Quyết Nghi Tập” để hoằng dương pháp môn Tịnh độ. Lúc rảnh, xâu chuỗi không rời tay. Trong lúc đi đứng nằm ngồi chuyên tâm niệm Phật không để xen hở. Và dưới đây là bài tựa bộ “Tịnh Độ Bửu Châu Tập” của ông viết :

“Tâm chúng sanh thanh tịnh thời Phật độ tịnh. Pháp tánh vốn vô sanh mà vẫn luôn sanh, có Đức Phật Thế Tôn hiện tại đương thuyết pháp tại Cực Lạc thế giới hiệu là A Di Đà. Cõi ấy cảnh duyên sâu thắng, nhân dân thọ mạng vô biên. A Di Đà Phật bi tâm rất sâu, nguyện lực rất lớn. Phật thường phóng quang minh chiếu khắp thập phương nhiếp thọ mọi loài. Cực Lạc thế giới tịnh diệu trang nghiêm bất khả tư nghị : lưới ngọc sáng đẹp giữa chừng không, cây vàng ngay hàng trên bảo địa, trong ao đầy nước bát công đức, hoa sen đủ màu tủa đủ sắc quang minh, thiên nhạc trỗi ca cả ngày đêm, thiên hoa cúng dường khắp ức cõi. Chư Phật đồng tiếng ca tụng, Thánh phàm đua nhau cùng về. Chúng sanh trong tâm A Di Đà luôn luôn được nhiếp thọ, Tịnh Độ trong tâm chúng sanh niệm niệm được vãng sanh. Thân gá hoa sen không rời vuông tấc, thần du cõi Tịnh há ngoài bổn tâm. Như gương sáng thâu hình vạn vật mà vẫn không có tới lui, dường trăng tròn in bóng nghìn sông nhưng vốn không lên xuống. Đối thượng cơ viên đốn thời đều là bậc Nhứt sanh bổ xứ, khai phương tiện quyền môn thời chia ra có chín phẩm thấp cao. Niệm lấy tự tánh A Di Đà bổn lai vô niệm, sanh duy tâm Cực Lạc chơn thiệt vô sanh. Giải thoát sanh tử, mười niệm cũng được đến bảo địa. Hội về thật tướng, nhị thừa rồi cũng chứng Bồ-đề. Như thuyền lớn chở đá dầu nặng nhưng cũng được khỏi chìm, dường xuôi gió trương buồm lướt sóng mà mau qua đến bến. Hễ tỏ ngộ thời Tịnh Độ không phải xa không phải gần, còn mê mờ thời chính gần mà thành xa.

Than ôi ! Những kẻ ít học chướng nhiều, nghĩ sâu trí cạn, chê Pháp môn Tịnh độ là quyền tiểu, đó là chê cả Mã Minh và Long Thọ là chưa phải, báng Thiên Thai cùng Trí Giác là chẳng thông. Cũng là chẳng chịu tự tin rằng mình sẽ được thọ ký Vô thượng Bồ-đề chẳng bằng lòng sanh liền vào nhà của Phật. Ôi ! Chim trong lồng, cá trong chậu, mà vẫn ung dung nhảy lội vui chơi. Mạng người như ngựa chạy qua cửa sổ, như đèn để trước gió mà vẫn tưởng là lâu dài ! Khi còn thời sống luống, lúc chết phải sa đọa. Đâu ngờ rằng Tịnh độ chính miệng Đức Đại Hùng tán thán, lời vàng cặn kẽ dạy khuyên. Y theo mà hành thời trong giây phút đã làm bạn với Thánh Hiền, nội chốc lát đã đủ tướng hảo. Dứt hẳn ngũ trược ác báo, hưởng mãi quả đẹp thuần vui. Nếu là người bi nguyện nặng lòng thời tự tại vào tam đồ mà độ chúng. Pháp môn siêu thắng dường ấy mà không biết không tu, thật là kẻ đáng thương đáng xót”.

Triều vua Huy Tông nhà Tống, ông lãnh chức Hộ Bộ Thị Lang, không bao lâu ông an lành vui vẻ mà tạ thế.

Có ông cao Tăng nhập định thần du Tịnh Độ, thấy Vương Cổ và Cát Phiền ngồi trên tòa sen báu.

Ông Phiền người Trừng Giang, quan chức Triều Tán Đại Phu, nơi công thự cũng như tư gia, ông đều dọn tịnh thất thờ Phật. Một hôm đương lúc ông lễ niệm, Xá lợi sáng chói từ trên không rớt xuống giữa bàn Phật. Về sau ông nhuốm bệnh, đoan tọa xoay mặt về hướng Tây niệm Phật mà mất.

Trích ở các bộ Tống Sử

Lạc Ban Văn Loại, Pháp Lữ Chí

II - CHUNG LY CẨN

Ông Chung Ly Cẩn người Cối Kê. Thân mẫu là Nhiệm phu nhơn chuyên tu Tịnh độ, đến lúc lâm chung kêu ông mà dặn phải siêng niệm Phật. Từ ngày ấy, ông Cẩn hăng hái tu trì, mỗi ngày thực hành 20 điều thiện. Ít lúc sau, ông bổ nhiệm Triết Tây, gặp Từ Vân Sám chủ giảng luận về yếu chỉ vãng sanh, công phu tu hành của ông càng thêm chuyên cần. Thuở sanh tiền Nhiệm phu nhơn có trổ cốt tượng Phật bằng gỗ chiên đàn, và hằng ngày bà thường bưng đội trên đầu mà hành đạo. Sau khi bà vãng sanh, ông Cẩn chí thiết thờ tượng ấy. Một hôm, đương lúc ông lễ kính, giữa chặng mày của tượng Phật ấy bỗng trồi ra hai hột Xá lợi.

Không bao lâu, ông bổ nhiệm Khai Phong phủ. Một ngày nọ, đương lúc nửa đêm, ông gọi người nhà bảo rằng : “Thái phu nhơn về cho tôi hay rằng giờ vãng sanh đã đến !”. Nói xong, ông liền ngồi kiết già mà qua đời. Trước đây một ngày, cả nhà đồng chiêm bao thấy ông Cẩn ngồi trên tòa sen xanh, thiên nhạc du dương, bay trên hư không mà đi về hướng Tây.

Ông Cảnh Dung, con trai ông Cẩn, quan chức Triều Thỉnh Đại Phu, thường ngày tụng Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh và tu niệm Phật Tam muội. Ông từ quan, cất am tranh bên vườn để làm chỗ tịnh tu. Ông từng nói “Đặng biết Di Đà, thời A Di Đà ! A Di Đà ! Chẳng biết Di Đà, thời biết làm sao ! Biết làm sao ! Chẳng biết Di Đà thời Di Đà ở ngoài Tây phương. Còn biết đặng Di Đà thời Di Đà chỉ tại trong nhà ta”. Một hôm, ông thỉnh Sa môn Diệu Ứng tụng Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, ông thắp hương chăm chỉ nghe. Nghe Kinh xong, ông bái từ rồi hai tay kiết ấn mà đi.

Ông Tòng, cháu ông Cẩn, cư ngụ Tô Châu, cùng chư danh đức cao Tăng lập hội niệm Phật. Về sau, ông không bệnh, đoan tọa chắp tay hướng về Tây phương niệm Phật mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

III - MÃ VU

Ông Mã Vu tự Trọng Ngọc, người Hiệp Phi. Thân phụ là Trung Túc Công Mã Lượng, lúc làm Thái thú ở Hàng Châu, được Từ Vân Sám Chủ truyền cho Pháp môn Tịnh độ nên toàn thể gia quyến đều phụng Phật.

Năm Nguyên Phong, ông Mã Vu gặp Sa môn Quảng Sơ tặng cho tập “Thập Nghi Luận”. Ông mừng lắm nói : “Nay tôi đã biết chỗ về !”. Từ đó ông y theo pháp thập niệm hồi hướng của Từ Vân Sám Chủ mà thực hành hơn 20 năm. Về sau ông cùng ông Vương Cổ qua lại với nhau, công phu niệm Phật của ông càng thêm phần tinh tấn. Ông thích lấy việc phóng sanh làm Phật sự. Khi làm quan ở Tuy Xuyên cùng Tân Định, ông đều dùng ân đức mà cai trị dân. Mỗi ngày, ông định thời khóa tụng Kinh niệm Phật cùng quán tưởng Tây phương.

Thuở ấy, Kinh Vương phu nhơn thần du Liên Trì, thấy hai người ngồi trên tòa sen lớn, người dẫn đạo bảo là ông Dương Kiệt với Mã Vu. Lúc đó Dương Kiệt đã vãng sanh, Mã Vu vẫn còn tại thế.

Năm Sùng Ninh nguyên niên, ông Vu nhuốm bệnh, tự biết trước ngày giờ, ông tắm rửa thay y phục, ngồi kiết già hướng về Tây phương niệm Phật mà đi. Giờ ông Vu mất có khói thơm kết lại như cây lọng xanh từ phòng ông bay bổng lên cao. Sau đó vài ngày trong nhà có hơn mười người đồng chiêm bao thấy ông Vu về mách rằng : “Tôi đã được vãng sanh bậc Thượng phẩm”.

Mùa Thu năm ấy, đứa tớ gái của ông niệm Phật mà mất.

Ông Vĩnh Dật con trai ông Vu, chuyên chí tu thập niệm và tập thập lục quán hơn 30 năm. Ngày có bệnh, ông Dật thấy Phật A Di Đà và Quan Âm, Thế Chí cùng Thánh chúng đến tiếp dẫn, ông liền đoan tọa kiết ấn niệm Phật mà qua đời. Lúc đó hơi thơm lạ khắp nhà. Khi đã liệm, trên linh cữu mọc hoa đẹp ngũ sắc và chói sáng.

Trích ở bộ Lạc Ban Văn Loại

IV - GIANG CÔNG VỌNG

Ông Giang Công Vọng tự Dân Biểu, người Nghiêm Châu. Năm Kiến Trung nhà Tống, ông đỗ Tiến sĩ, phong chức Tả Tư Gián. Khi ông Thái Trung nhiếp chánh, ghét các quan ngôn sự, bèn cho ông Vọng qua trấn thủ An Nam.

Ông Vọng cùng vợ là Du thị hằng ngày ăn chay, thọ Bát quan trai, tu niệm Phật Tam muội, ông có soạn bài “Niệm Phật phương tiện”. Dưới đây là lược trích một đoạn ấy :

“Các pháp thế gian và xuất thế gian, muốn ít tốn công, mà chóng thành tựu, không gì băng cột tâm vào một việc. Như xưng niệm A Di Đà Phật có phương tiện rất hay : không cần động đến môi miệng, dùng chót lưỡi nhẹ nhẹ động nơi răng, tâm niệm ứng theo tiếng Phật rành rẽ rõ ràng. Tiếng không lọt ra ngoài, tánh nghe xoay vào trong. Tâm ấn nơi lưỡi, lưỡi gợi tâm niệm. Từ nơi nghe mà quán lấy tâm, tâm trở lại nghe lấy tự tánh. Tiếng Phật, tâm nghe, tự tánh, cả ba dung hội nhau thời niệm niệm viên thông. Lâu lâu tự thành “Duy tâm thức quán”. Nếu là hạng người lợi căn, thời niệm niệm bất sanh, tâm tâm vô sở, các căn vắng bặt, hình thức tiêu trừ, pháp pháp toàn chơn, môn môn tuyệt đối, bỗng chốc bèn thành “chơn như thật quán”. Còn người hạng sơ cơ nhứt tâm chuyên niệm hiệu Phật, nhẫn đến lúc lăng xăng công việc, cũng giữ chánh niệm không cho gián đoạn, đồng thời nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối luôn, không ngoài tuần tháng quyết tự thành chánh định. Kinh nói : “Tự tâm làm Phật, tự tâm là Phật. Tự tâm thấy Phật. Chính là đó…!”.

Người con trai ông chết, mách mộng với người cậu, nhờ thay lời cầu ông đến chùa Thiên Ninh vì mình mà tụng Kinh Bửu Tích để được siêu độ và nói : “Thấy nơi u minh có tấm bia vàng để rằng : “Ông Giang Công Vọng thân lãnh quan tước mà chí mộ xuất trần, siêng lo tu hành tâm không ái nhiễm. Lúc động lúc tịnh đều không trái Phật pháp. Khi nói khi nín đều hiệp đạo mầu. Tên họ thoát ngoài u đồ, chắc chắn sẽ về Tịnh Độ”.

Ít lúc sau, ông Vọng được lịnh vua triệu về nước. Một hôm ông không bệnh, an nhiên vui vẻ mà từ trần.

Trích ở những bộ Tống Sử,

Lạc Ban Văn Loại, Pháp Kim Thang

V - TRẦN QUYỀN

Ông Trần Quyền tự Vĩnh Trung, người Nam Kiếm Châu. Triều vua Huy Tông nhà Tống, ông ở chức Tả Tư Gián, vì lời ngay trái tai mà phải bổ làm quan ở tỉnh ngoài.

Ông Quyền vốn thích Kinh Hoa Nghiêm, tự hiệu là Hoa Nghiêm cư sĩ. Khi được gặp Minh Trí Pháp sư, ông hạch hỏi tông chỉ Thiên Thai. Minh Trí Pháp sư đem môn chỉ quán bất tư nghị cảnh, dùng tánh đoạt tu thành vô tác hạnh mà giảng giải cho. Ông Quyền liền thâm nhập. Từ đó ông bỏ hẳn văn chương chuyên tu niệm Phật Tam muội. Ông từng viết bài tựa bộ Tịnh Độ Thập Nghi Luận của Trí Giả Đại sư :

“Tâm người vô thường, pháp cũng vô định. Tâm và pháp muôn vàn sai khác chính bởi tại đây. Tin đây thời tin khắp cả, nên Hoa Nghiêm nói Thập tín. Nghi đây thời nghi tất cả. Tổ Trí Giả vì thế mà giảng Thập nghi. Ra khỏi lưới nghi mà vào trọn nơi tín, thời chẳng rời chỗ này liền đặng cứu cánh. Tịnh Độ là nơi cứu cánh đấy. Nơi ấy có Đức Giáo Chủ hiện đương thuyết pháp hiệu Vô Lượng Thọ Phật. Đức Phật ấy thuyết pháp chưa từng gián đoạn. Vì nghi làm chướng tai mình nên tự điếc mà không nghe. Vì nghi lấy tâm mình nên tự mê muội mà không hay biết. Vì không nghe không biết nên chấp cứng thói quen ô trược, rồi vọng cho thác chất hoa sen là dối bịa, mà trọn không chịu tự xét tấm thân máu thịt hiện tại đây từ đâu mà có ? Từ đâu mà đến ?

Tất cả từ nơi thai ngục. Thai ngục uế trược ấy có chút gì là chơn thật ! Do vì dựa theo nghiệp thức nên tự cách bản chơn, ở trong một huyễn cảnh mà lại chấp đây chê kia, đời đời say mê, tuyệt hẳn Thánh lộ. Vì thế nên Đức Bổn Sư Thích Ca Như Lai sanh lòng từ mẫn, đứng giữa cõi trược uế lên tiếng to kêu gọi : Tán thán sự thanh tịnh an vui của cõi Tịnh Độ. Ngài là vị đại Đạo sư ở bến sanh tử dùng pháp thuyền chở chúng sanh qua đến bờ Tịnh Độ. Nhưng bờ thanh tịnh của Đức Từ Phụ A Di Đà vốn không phân bỉ thử, thuyền Chánh pháp của Bổn Sư Thích Ca thiệt chẳng có lại qua. Ví như lồng đèn tám mặt, một ngọn đèn mà chia chiếu tám phương, mặt gương có Đông và Tây, mà ánh sáng vẫn là một. Đức A Di Đà thuyết pháp vốn khắp trong ánh sáng, vì muốn có chỗ chuyên chủ nên Đức Thích Ca chỉ một mặt Tây. Cho nên người đã được đến bờ Tịnh Độ mới có thể bặt dứt bỉ thử, kẻ chưa nhập pháp giới làm gì quên được Đông Tây ! Đối với pháp môn này nếu là người chưa đạt đến chỗ cứu cánh thời chớ có sanh lòng nê chấp, cũng đừng phân tích kia đây, chỉ nên chánh niệm tin chắc mà thôi. Đây chính là thâm ý của hai Đức Giáo Chủ, mà cũng là chỗ quyết tin của Tổ Trí Giả vậy. Tin là mẹ của tất cả pháp lành, còn nghi là gốc của muôn vàn ác nghiệp. Nếu có thể thuận theo tin, đào gốc nghi, thời hạng người nghiệp chướng nặng nề trước kia, kẻ điếc liền hết điếc mà được nghe, người mê liền tỏ ngộ mà được biết chưa ra khỏi sanh tử sẽ được ra khỏi, chưa sanh Tịnh Độ tất được vãng sanh. Thuận theo lời Đức Bổn Sư, mà đến ra mắt Đức Từ Phụ rồi thể theo chí nguyện của Từ Phụ mà trở lại phụ trợ Bổn Sư không rời Cực Lạc mà khắp đến mười phương ngồi an trên liên đài mà phân thân pháp giới. Từ khi hai Đức Giáo Chủ lập pháp đến nay, những người đã được như thế nhiều như số cát sông Hằng, còn gì mà chẳng chịu tin, còn gì mà cứ nghi ngờ. Mình đã tin nên tìm phương chước dìu dắt mọi người cùng tin, đây chính là lòng bi mẫn của Tổ Trí Giả vậy”.

Về sau ông đến cất nhà ở Lô Sơn. Một hôm ông bảo người nhà rằng : “Năm trước mắc nhiều hoạn nạn, tôi chỉ sợ sự chết làm gián đoạn công phu hành đạo. Đến nay thời vòng sống chết tôi đã được ra khỏi”. Dứt lời, ông Quyền đoan tọa an vui mà mất, thọ 65 tuổi.

Trích ở những bộ Đông Đô Sự Lược

Phật Tổ Thống Kỷ, Lý Trung Định Tập

VI - DAO ƯỚC

Ông Dao Ước người Hồ Châu, thông Kinh luận, chuyên chí Tây phương, Giác Hải Đại sư lập thành hội niệm Phật, chính nhờ ông Ước cổ xướng.

Một hôm ông Ước nói với Đại sư rằng : “Từ lâu tôi nhàm chán thân sống vô thường này, không còn mấy ngày nữa tôi sẽ về Cực Lạc. Xin Đại sư trợ niệm cho tôi !”. Giác Hải Đại sư liền mỗi ngày cùng ông Ước đồng thanh niệm hồng danh của Phật. Ít hôm sau, ông Ước đoan tọa mà từ trần. Đêm ấy Giác Hải Đại sư thấy ông Ước về mách rằng : “Tôi đã được vãng sanh Tịnh Độ, đó là nhờ sức trợ niệm của Đại sư”. Đại sư nói : “Tôi muốn cùng đi với ông được không ?”. Ông Ước đáp : “Tuổi thọ của Đại sư chưa mãn. Thầy Cảnh Ý ở trong chùa sẽ được về trước”.

Sư Cảnh Ý là một hội viên của hội niệm Phật. Cách tháng sau, sư Cảnh Ý tự biết giờ trước, vui vẻ niệm Phật mà tịch.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

VII - LÂU MÂN

Ông Lâu Mân người Minh Châu, anh ruột là ông Bửu Châu thường rước chư Sư Tăng về nhà để cùng đàm luận, mỗi lúc như vậy, ông Mân ở một bên chăm chỉ lắng nghe. Do đó nên đối với Phật pháp, lòng tin mộ của ông càng ngày càng thêm sâu.

Năm 22 tuổi mang bệnh nặng, ông nguyện quyết về Tịnh Độ, thưa với cha mẹ rằng : “Nếu con được sanh về Cực Lạc để được thấy Phật nghe pháp thời có gì quý bằng”. Liền thỉnh chư Tăng đến nhà tụng Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh. Ông Mân xin dọn bàn thiết tượng đối với giường bệnh để ông chiêm ngưỡng, rồi ông chăm nhìn tượng Phật mắt không hề rời. Vài giờ sau, mặt ông bỗng hiện vẻ vui mừng mà nói rằng : “Tôi đã được ở Cực Lạc !”. Rồi ông xoay mặt về hướng Tây, xướng hồng danh của Phật mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

VIII - VƯƠNG NHỰT HƯU

Ông Vương Nhựt Hưu tự Hư Trung, người Lô Châu. Triều vua Cao Tông nhà Tống, ông đỗ Tiến sĩ không chịu làm quan. Ông học rộng, quán thông cả kinh sử. Dạy truyền Nho đạo, Lục kinh, Luận ngữ, Mạnh Tử.

Được ít lâu, một ngày nọ ông bỏ cả thế pháp, chỉ chuyên tu niệm Phật, mặc vải thô, ăn chay. Mỗi ngày lễ Phật một nghìn lạy.

Ông có soạn bộ “Long Thơ Tịnh Độ” trong đó đem Pháp môn Tịnh độ khuyến dẫn trên từ vua, quan, sĩ đại phu, dưới đến hàng tôi tớ, ăn mày, hàng thịt. Văn dễ lời cạn, rất rõ rất thiết, như lời phụ huynh khuyên dạy con em. Đọc đến dễ cảm dễ hiểu.

Mỗi sáng sớm ông lễ Phật chúc nguyện rằng : “Đệ tử kính vì tất cả chúng sanh trong pháp giới mà thắp hương đảnh lễ thập phương chư Phật, tôn Pháp, Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng, xin cho được thanh tịnh tất cả thiện nguyện tế độ tất cả chúng sanh. Đến khi mạng chung liền sanh Cực Lạc, thấy Phật nghe pháp chứng Vô sanh nhẫn, đủ lực thần thông, rồi trở lại cõi trược này giáo hóa chúng sanh, lần lần làm cho chốn Diêm Phù này, nhẫn đến cõi Ta Bà và thập phương vô lượng thế giới, đều thành thanh tịnh Cực Lạc thế giới”.

Ông lại nguyện rằng : “Đệ tử Nhựt Hưu kính vì tất cả mọi loài, niệm “Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật” 108 biến để chứng Vô thượng thiện căn. Niệm “Nam mô A Di Đà Phật” 108 câu để kết Vô thượng thiện duyên. Nguyện tất cả mọi loài đều được đượm nhuần ơn đức của Phật. Cùng thương nhau yêu nhau, chẳng tranh giết lẫn nhau, chẳng lấn hiếp chẳng ăn nuốt nhau. Đồng tấn tu Phật pháp, đồng thoát ly khổ hải, đồng siêu sanh Tịnh Độ”

Ông lại nguyện rằng : “Đệ tử Nhựt Hưu túc nghiệp sâu nặng xin vì những chúng sanh bị con giết ngày trước, bị con ăn ngày trước, nhẫn đến tất cả sanh vật bị giết bị ăn trong cõi này, mỗi ngày niệm “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới tam thập lục vạn ức nhứt thập nhứt vạn cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật” 120 biến. Ngưỡng mong Như Lai bủa lòng đại từ bi, độ tất cả chúng sanh đồng sanh Cực Lạc thế giới”.

Niên hiệu Càn Đạo, tháng Giêng năm Quý Tỵ, ông Lý Ngạn Bật ở Lô Lăng cho mấy người con trai đến thọ giáo với ông Nhựt Hưu. Mùng 5 tháng tư năm ấy, ông Bật có bệnh nặng. Đêm 19 tháng Tư, ông Bật mơ thấy một người tự xưng là Long Thơ cư sĩ bảo rằng : “Dậy ăn cháo trắng sẽ mạnh ! Ông có nhớ Khuyết Trọng Nhã dạy cho ông con đường tu hành mau tắt đấy không ?”. Ông Bật đáp : “Có ! Mỗi ngày tôi niệm Phật luôn”. Sau khi thức dậy, ông Bật đòi cháo trắng ăn. Ăn xong bệnh liền lành.

Ít hôm sau, mấy người con của ông Bật trở về nhà thuật lại rằng : “Ông Nhựt Hưu đã tạ thế từ tháng trước. Ba ngày trước khi chết, ông ấy đi từ biệt khắp tất cả thân hữu nói rằng mình sắp đi xa, khuyên nhắc mọi người gắng tinh tấn niệm Phật, đồng thời ông ấy hẹn ngày đi. Đến kỳ, ông ấy vẫn giảng sách cho học trò học, cùng lễ Phật tụng niệm như thường ngày. Đến canh ba, ông bỗng to tiếng niệm ba lần “Nam mô A Di Đà Phật, rồi nói lớn rằng : “Phật đã đến rước tôi !”. Dứt lời ông ấy vẫn đứng ngay thẳng trước bàn Phật, chắp tay mà vãng sanh”. Thuật xong, mấy người con lại trao ra bức chân dung của ông Nhựt Hưu. Ông Bật xem chân dung ấy giống hệt người mà ông đã thấy trong giấc mộng đêm hôm trước. Cảm động, ông Bật bèn khắc tượng ông Hưu và thuật việc mình với mọi người. Do đó nên nhiều người ở Lô Lăng kính thờ tượng ông Hưu tại nhà.

Năm Hàm Hựu, ông Lữ Mông Ích khắc bản bộ “Long Thơ Tịnh Độ”. Thợ khắc đến thiên “Chúc nguyện” trong gỗ có vật cứng chạm lưỡi đục, cạy ra được ba viên ngọc Xá lợi để ở thiên đầu.

Trích ở các bộ Lạc Ban Văn Loại

Long Thơ Tịnh Độ

IX - DIÊM BAN VINH

Ông Diêm Ban Vinh người Thang Dương, năm ba mươi ngoài tuổi, gặp một Sư Tăng khuyên tu Tịnh độ trì chú vãng sanh, ông liền ăn chay trường, mỗi ngày hướng về Tây phương tụng chú một nghìn biến. Ông đốc suất cả gia quyến của ông đồng thanh cùng tụng. Tu tập như vậy được hai mươi năm.

Triều Tống năm Thiệu Hy nguyên niên, ngày mùng một tháng Giêng, ông đọc Kinh “Đại Niết Bàn”, than rằng : “Nhơn sanh như mộng huyễn thôi. Ta còn quyến luyến gì nữa !”. Ngày mùng một tháng Ba, có mùi hương lạ ngào ngạt cả nhà trọn ngày mới tan. Đêm ấy con trai ông mơ thấy Đức A Di Đà Phật phóng quang minh chiếu khắp nhà cửa và nhà cửa đều biến thành màu huỳnh kim. Năm ngày sau, sáng sớm, ông Vinh khóa tụng như thường. Tụng niệm xong, ông xoay lại bảo quyến thuộc rằng : “Hôm nay tôi đi về, cẩn thận chớ làm rầy !”. Rồi ông xoay mặt về hướng Tây ngồi kiết già nhắm mắt. Đến cuối giờ ngọ, ông vụt nói : “Tôi đi !”. Ông liền đứng dậy đi vài bước, giơ tay kiết ấn mỉm cười đứng yên rồi mất.

Trích ở tập Lạc Ban Văn Loại

X - NGÔ KHẮC KỶ

Ông Ngô Khắc Kỷ hiệu Khải Am cư sĩ, ngụ ở Phủ Giang. Ông bị đau mắt lâu ngày mà không lành, xốn nhức khó chịu. Có người khuyên ông nên trì niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát. Ông nghe lời, không bao lâu mắt được lành. Từ đó ông tin hướng Phật pháp.

Một lúc nọ, ông đọc Kinh Thủ Lăng Nghiêm đến đoạn “Cả hư không sanh trong tâm như chút mây điểm giữa trời”, tâm trí ông bỗng mở thông. Kế ông tiếp đọc bộ Tông Cảnh Lục, lâu lâu bèn được ngộ nhập. Ông soạn bộ “Pháp Hoa Khu Kiện” hồi hướng công đức nguyện sanh Cực Lạc thế giới. Ông từng nói : “Không đọc Kinh Pháp Hoa, không do đâu rõ thấu diệu pháp vốn sẵn đủ nơi tâm ta. Còn chẳng sanh Cực Lạc thời chẳng thể chứng được diệu pháp vốn sẵn đủ nơi tâm mình. Đức Như Lai cặn kẽ dạy bảo, Tổ Trí Giả tha thiết hoằng truyền. Lòng từ mẫn của Phật cùng Tổ vẫn đồng một mục đích”.

Năm Càn Đạo, ông qua ngụ Tô Châu, cùng với Thiệt Công Đại sư lập hội niệm Phật. Ông bảo với thợ họa đồ Thập pháp giới và Tây phương cửu phẩm ở hai bên điện. Bức Thập pháp giới để tiêu biểu ý nghĩa “vạn pháp duy tâm”. Bức Cửu phẩm để chỉ con đường giải thoát mau tắt. Ông Chung Ly Tòng, một hội hữu, làm lời ký.

Năm Gia Định thứ 7, ông Ký tạ thế tại Bửu Tích Sơn thọ 75 tuổi. Có lời trối nên làm lễ trà tỳ theo pháp của chư Tăng.

Trích ở các bộ Phật Tổ Thống Kỷ

Lạc Ban Văn Loại

XI - MAI PHƯỚC

Ông Mai Phước người Tòng Giang, thường ngày trai giới tụng Kinh, chú tâm nơi Tịnh độ. Khi lâm chung biết ngày giờ trước, ông chuyên xưng Đại Thế Chí Bồ Tát. Đến ngày thứ 7, ông tự tắm rửa thay y phục, rồi đoan tọa mà nói với mọi người rằng : “Đức Đại Thế Chí Bồ Tát đến rước tôi về Cực Lạc !”. Dứt lời, ngồi yên mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

XII - VƯƠNG CỬU LIÊN

Ông Vương Cửu Liên, người triều Nguyên, siêng tu tịnh nghiệp, y theo Kinh mà tập quán tưởng. Nhưng mỗi khi ông mơ thấy Phật đều là hình tượng chớ không phải Phật thiệt. Ông đem việc ấy hỏi Tịch Công Đại sư. Tịch Công bảo : “Việc ấy rất dễ. Ông còn nhớ rõ dung mạo của thân phụ ông chăng ?”. Cửu Liên thưa : “Nhớ !”. Tịch Công lại hỏi : “Lúc ông chiêm bao thấy thân phụ ông khác với hồi còn sống không ?”. Cửu Liên thưa : “Không khác !”. Tịch Công giảng giải : “Phật vốn vô tướng, nhơn nơi tâm niệm mà thành tướng. Ông muốn thấy Phật thời nên tưởng thân phụ ông là A Di Đà Phật : tưởng giữa chặng mày thành tướng bạch hào, tướng mặt thành sắc chơn kim, tưởng ông ấy ngồi trên tòa sen báu. Tập như vậy lâu lâu quán tưởng sẽ thành, rồi lần lần thấy thân ông ấy càng ngày càng cao lớn khắp cả hư không thời là được thấy Phật thiệt”. Ông Cửu Liên liền y theo lời của Tịch Công đã chỉ dạy đó mà tu tập, từ đó về sau, mỗi khi mơ thấy cha, ông liền tưởng là thấy Đức A Di Đà Phật. Ít lâu cha ông dắt ông ngồi trên tòa sen rồi thuyết pháp cho. Cửu Liên nghe pháp, tâm được khai ngộ, từ đó công hạnh tu hành của ông càng thêm chuyên cần.

Ông Mã Sanh, một người bạn cũ của cha ông Liên, đi xa về đến thăm ông Liên mà thuật lại rằng : “Cách tháng trước đây tôi mang bệnh nặng chết, bị bắt dẫn đến địa ngục. Giữa lúc kinh hoàng, bỗng có ánh sáng vàng chiếu đến trên mình tôi. Trong ánh sáng hiện một người ngồi trên tòa sen kêu tên tôi. Tôi nhìn kỹ thời té ra là thân phụ của cháu. Ông ấy bảo người đưa tôi về, nhờ đó tôi mới được sống lại. Chẳng biết thân phụ của cháu thuở sanh tiền tu hành thế nào mà được đến bực ấy ?”. Cửu Liên bèn thuật việc mình quán tưởng theo lời dạy của Tịch Công. Ông Mã Sanh nghe xong, cảm động lắm, liền lập nguyện, bắt đầu ngày đó nhứt tâm chuyên tu tịnh nghiệp.

Trích ở tập Lang Hoàn Ký

XIII - MÃ VINH TỔ

Ông Mã Vinh Tổ người Tú Thủy (Triết Giang) năm ba mươi tuổi mang bệnh lạc huyết. Năm năm sau bệnh càng thêm nặng, ăn vào liền ụa mửa. Sư Tường Phong, người đồng hương, lúc chưa xuất gia cùng ông Vinh Tổ quen biết nhau. Năm ấy Sư về thăm làng. Vinh Tổ thấy cử chỉ ngôn ngữ của Sư bèn sanh lòng kính mộ mới hỏi phương chữa bệnh. Sư Tường Phong bảo : “Bệnh của anh thuốc men không thể chữa lành được. Nếu anh có thể vất bỏ tất cả việc đời, chỉ chuyên lòng tưởng Phật niệm Phật. Lâu ngày công sâu, vô minh dứt lần, bệnh nặng sanh tử từ vô lượng kiếp tới nay liền đặng giải thoát, thời còn có bệnh hoạn gì mà phải lo phải sợ ư !”. Ông Vinh Tổ tỉnh ngộ. Từ đó ông trường trai tu tịnh nghiệp, không bao lâu mà bệnh lành. Trước ngày phát tâm, ông mơ thấy trên hư không hiện vô số chữ “thọ” chiếu sáng rực rỡ. Đến khi đọc Kinh, thấy câu : “Đức A Di Đà Phật hiệu là Vô Lượng Thọ Phật, cũng hiệu là Vô Lượng Quang Phật”. Rất hiệp với cảnh chiêm bao. Ông mừng lắm, tự cho rằng mình có duyên với Phật. Rồi ông đi thọ Tam quy y và Ngũ giới. Ông định thời khóa mỗi ngày niệm ba vạn câu hiệu Phật, tụng một biến Kinh A Di Đà, một biến Kinh Kim Cang, và đoan tọa quán tưởng. Thỉnh thoảng, ông mời các đạo hữu hợp nhau ngày đêm niệm danh hiệu Phật.

Tháng Giêng năm 48 tuổi, ông từ Tô Châu về nhà, qua tháng sau thời nằm bệnh. Mùng một tháng Ba, ông bảo người nhà rằng : “Tôi từ năm 35 tuổi phát Bồ-đề tâm chỉ cầu trang nghiêm Tịnh Độ lợi ích quần sanh. Dẫu cho tước công hầu ở đời cũng xem như dép rách. Hiện nay dầu bệnh khổ nơi thân, nhưng trong tâm vẫn an vui không chút xao động. Ngõ hầu lúc lâm chung chánh niệm vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới !”. Có người hỏi : “Gia nghiệp không được dư dả, ông đi, những người ở lại mới làm sao ?”. Ông đáp : “Mỗi người tự có phần nấy chẳng phải chỗ tôi lo đến được”. Chiều ngày 18, ông nói : “Sáng mai cần phải đại sám hối”. Sáng sớm ông gượng bệnh thay áo lễ Phật, rồi đoan tọa xoay mặt về Tây phương tụng hiệu Phật hai trăm câu, và bài văn phát nguyện của Tổ Vân Thê (Khể thủ Tây phương An Lạc quốc v.v…) 
tàn một cây nhang mới đi nghỉ. Ngày 21, ông nói : “Đức Phật và hai vị Đại sĩ đến thuyết pháp cho tôi nghe. Tôi luôn được ở trong quang minh của Phật”. Ngày 22 ông nói : “Quan Thế Âm Bồ Tát đem tịnh thủy tắm cho tôi, rửa sạch hoặc nghiệp của tôi. Thân tâm tôi bây giờ mát mẻ lắm, vui thích không thể tả được !”. Chiều lại có người bạn thân là ông Trần Hồng Điều đến thăm hỏi : “Anh có niệm Phật không ?”. Ông đáp : “Có !”. Ông Điều bảo : “Chẳng nên trước tướng !”. Ông đáp : “Tức tâm tức Phật, nào có trước tướng !”. Ngày 29, vừa đến ngọ trưa, ông nói với mọi người rằng : “Đức Phật đến rước 
tôi !”. Rồi ông nằm nghiêng qua phía hữu, liền tiếng niệm Nam mô A Di Đà Phật mà qua đời. Bấy giờ nhằm năm Càn Long thứ 56, ngày 29 tháng Ba.

Lúc đó Tường Phong Hòa thượng đương kiết thất ở Văn Tinh Các (Tô Châu), tu niệm Phật Tam muội. Mùa Đông năm ấy, một đêm nọ, ngài mơ thấy ba người dung nghi cao lớn oai nghiêm, đầu có vầng sáng tròn, đồng đi thẳng vào thất ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng Nam. Ngài Tường Phong làm lễ xong, thưa rằng : “Ba vị Đại đức ở đâu quang lâm đến tệ thất ?”. Người ngồi giữa đáp : “Chúng tôi ở Tây phương đến !”. Ngài thưa : “Có phải là người trong nước Cực Lạc của Đức A Di Đà Phật chăng ?”. Đáp : “Phải đấy !”. Ngài thưa : “Dám hỏi quý vị Đại đức quý danh là chi ?”. Ba người đồng thanh hỏi lại : “Ông tên chi ?”. Ngài Tường Phong thưa : “Đệ tử pháp danh là Đạt Văn”. Người ngồi giữa nói : “Ông vọng ngữ rồi”. Ngài thưa : “Đệ tử thưa thiệt chớ chẳng phải nói dối”. Người ngồi giữa hỏi : “Ông tên chi ?”. Ngài thưa : “Đệ tử pháp danh là Đạt Văn”. Người ngồi giữa nói : “Lại vọng ngữ nữa”. Ngài thưa : “Chẳng phải đệ tử nói dối, cớ sao Đại đức lại cho là đệ tử vọng ngữ ?”. Người ngồi giữa bảo : “Tất cả chúng sanh cho vọng là chơn, chấp giả làm thiệt, vì thế mà phải bị luân hồi sanh tử. Nếu là người có trí rõ thấu là vọng là giả, liền không sanh tử. Ông chớ có mê mờ mà quên mất cả chơn tâm của ông. Phải biết rằng chơn tâm không tâm, chơn tri không tri. Giác tri là ma. Nơi Phật vốn không tri giác. Ông phải tin lấy chớ có nghi ngờ !”. Vừa nghe xong, ngài Tường Phong liền tỏ ngộ, tâm trí rỗng suốt, thấu bổn chơn tâm. Ngài bèn thưa : “Lời dạy của Đại đức chính là Phật pháp bất khả tư nghị. Dám thưa Đại đức, Đại đức đã từ nước Cực Lạc đến đây, chẳng biết có từng thấy Đức A Di Đà Phật chăng”. Người ngồi bên tả nói : “Ông phải tự mình thấy Phật mới được”. Ba người đồng đứng dậy. Mỗi người vỗ trên đầu ngài Tường Phong một cái mà nói kệ rằng :

Người thứ nhứt :

Phải gắng siêng tinh tấn

Tu các nghiệp thanh tịnh

Nhơn chắc thời quả thiệt

Chớ ôm lòng nghi ngờ.

Người thứ hai :

Các pháp từ tâm sanh

Các pháp từ tâm diệt

Tâm, pháp bổn lai không

Thủ xả bất khả đắc.

Người thứ ba :

Sanh Phật, tâm, pháp đồng

Ví như cảnh trong mộng

Như huyễn tam ma đề

Ông đã hiểu đôi phần !

Ba người nói kệ vừa dứt, thoạt thấy ông Mã Vinh Tổ nghiêm chỉnh oai nghi đảnh lễ ba vị ấy. Ba vị liền xẹt lên hư không bay về hướng Tây. Đồng thời nghe tiếng nhạc du dương, tiếng niệm Phật khắp trời.

Ông Mã Vinh Tổ lại xoay về phía ngài Tường Phong cúi đầu lễ ba lạy rồi nói : “Nhờ thầy khuyên tôi quy y Tam Bảo chuyên tu tịnh nghiệp. Nay tôi đã sanh về Tịnh Độ hưởng đại an lạc, nên tôi thỉnh ba vị Đại sĩ đến đây diễn pháp mầu để báo ơn thầy”. Nói xong, ông Mã Vinh Tổ lễ ngài ba lạy nữa, rồi chắp tay niệm Phật bay về hướng Tây. Vừa lúc tiếng hồng chung khuya vang động, ngài vụt choàng tỉnh dậy. Rạng ngày, Hòa thượng Tường Phong chép lại các việc đã nghe trong đêm qua thành thiên “Mộng Ký”.

Về sau ngài Tường Phong ẩn tu nơi chùa Phước Thành ở Lữ Giang, lúc lâm chung biết ngày giờ trước, đoan tọa niệm Phật mà thị tịch.

Trích ở các bộ Nhứt Hạnh Cư Tập

Tây Phương Công Cứ Thơ Chứng

 Nhiễm Hương Tập

XIV - LỤC SĨ THUYÊN

Ông Lục Sĩ Thuyên người Tô Châu, nhơn dự lễ Lương Hoàng Sám để cầu cho bạn lành bệnh, mà ông phát tâm tu Phật. Ông qua Thiên Ninh am thọ Bồ Tát giới. Vừa gặp lúc Tịch Căn Bồ Tát từ Cực Lạc đến giáng thần nơi Ngọc Đàn giảng dạy pháp môn niệm Phật, khuyên người phải nghĩ đến luân hồi sanh tử nhứt tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới. Bồ Tát thuyết pháp được 11 hội. Do đó những người dự hội mới bắt đầu biết hồi hướng Tịnh Độ. Ông Sĩ Thuyên cũng chuyên tâm quán tưởng cùng tụng Kinh Phổ Hiền. Ông trường trai được hai năm, kế mang bệnh, kém ăn, ông bèn khai giới thực nhục (tức là ăn mặn). Bệnh càng ngày thêm nặng, tự biết sắp chết, ong rất ăn năn hổ thẹn, liền dứt hẳn cá thịt, miệng không ngớt niệm A Di Đà Phật. Ông căn dặn người con gái của ông phải ăn chay niệm Phật, khi ông mất không được khóc than. Bảy ngày sau, bệnh làm xung. Mắt ông ngó lên trên không như có thấy những chi, miệng thời nói : “Bạch liên ! Bạch hạc ! Chư thượng thiện nhơn !”. Ông lại luôn miệng nói : “Phật ! Phật ! Phật !”. Ông trở mình nằm nghiêng phía hữu mà đi. Bỗng có mùi hương lạ thơm ngát cả nhà. Bấy giờ là ngày 18 tháng Năm, năm Càn Long thứ 52, ông được 39 tuổi.

Qua năm sau, ngày mùng một tháng Năm, ông Sĩ Thuyên giáng thần ở Ngọc Đàn bảo mọi người rằng : “Ngày trước tôi sắp phải đọa lạc. Nhờ lúc lâm chung chánh niệm kiên cố, nên may mắn được Đức Phật đến tiếp dẫn vãng sanh Tây phương.

Tất cả người đời đều có một việc rất khẩn yếu, không một ai trốn tránh được, mà phần nhiều hay quên lãng đi, các ngài có rõ cùng chăng ?

Hiện tiền đây, các ngài thân thể khỏe khoắn tinh thần khương kiện, nên các ngài nào có nghĩ đến ngày mai này sẽ phải bệnh nằm trên giường, hồn phách ly tán, không biện biệt Đông Tây, chẳng phân được Nam Bắc. Trước mắt mờ mịt, không vin níu đâu được, rồi tất phải theo nghiệp mà luân chuyển, chịu không biết bao nhiêu là sự thống khổ. Chỉ riêng nơi người lúc bình thời chuyên tu Tịnh độ, đến giờ chết tự thấy Phật đến tiếp dẫn sanh trong hoa sen báu, thọ mạng vô lượng, hưởng thuần những điều vui, chứng bậc bất thoái chuyển, một mực tấn tu thẳng đến quả Phật. Nếu các ngài có lòng muốn lập chí nơi đây, tôi sẽ cùng các ngài luận về những quan điểm cốt yếu của môn Tịnh độ. Nghĩa là tôi muốn nói đến “Tín”, “Hạnh” và “Nguyện” vậy.

Một là Lòng tin. Tin chắc Tây phương có Cực Lạc Tịnh Độ, như phía Tây của thành này có công viên dinh thự. Cõi Ta Bà đây ở Đông phương, như xóm nhà phía Đông của thành này. Ta Bà đã là thiệt có, Cực Lạc cũng là có thiệt. Cùng đồng ở trong Giác tánh viên minh, nên chuyên tưởng nhớ thời có thể về. Cũng như đồng ở trong thành, cất bước thời từ xóm nhà phía Đông tất đến được công viên phía Tây. Đã tin chắc Tịnh Độ quyết định có thể về được, lại phải tin chắc pháp môn niệm Phật, như là tin những việc mặc áo quần cùng ăn cơm vậy. Mặc áo khỏi lạnh, ăn cơm khỏi đói, niệm Phật khỏi sanh tử. Ngày nay tin ngày mai không tin, chưa phải thiệt tin. Trọn đời mà thoạt có một niệm ngờ cũng chưa phải thiệt tin. Bắt đầu từ ngày nay mãi đến hơi thở cuối cùng, luôn luôn tin chắc không một mảy may nghi ngờ, mới là thiệt tin.

Hai là Công hạnh. Đã tin chắc có Tây phương Tịnh Độ, đã tin chắc nơi pháp môn niệm Phật, nhưng nếu cứ nói suông khen luống, thời có ích gì đối với sự vãng sanh giải thoát ! Cho nên hễ ngày nay tin, thời y giáo phụng hành liền nội ngày nay. Ngày mai tin thời thực hành liền trong ngày mai. Rất không nên nói : Tôi bây giờ còn trẻ, thủng thẳng chờ khi lớn tuổi rồi tu cũng chưa muộn. Hãy nhìn qua trên những khoảnh đất chôn người, bao nhiêu là mồ của kẻ đầu xanh ! Bao nhiêu là mả của ai mạng ngắn ! Đâu có thể chắc rằng ta sẽ được thọ trường ! Cũng chẳng nên nói : Tôi bây giờ mắc bận lo việc nước, việc nhà, việc cha mẹ, việc vợ con, chờ đến lúc rảnh rang sẽ chuyên lo tu trì cũng chẳng muộn. Nên biết vô thường mau chóng, một mai thần chết đưa liềm vào cổ, không có thể bảo với nó chờ cho tôi rảnh việc rồi sẽ đến ! Lại có người lúc thời tu trì dũng mãnh, lúc thời giải đãi qua giờ. Phải biết rằng hàm dưỡng liên thai cần phải công phu miên mật. Như gà ấp trứng, luôn luôn cần phải cho hơi ấm tiếp tục mới có thể nở con. Nếu ngày nay ấp, ngày mai bỏ đi, tất trứng phải hư phải thối.

Ba là Chí nguyện. Một chữ nguyện rất là khẩn yếu. Trong đời những người tin Phật niệm Phật chẳng phải là không đông, nhưng phần nhiều hoặc là cầu cho hiện đời được sang giàu sống lâu, hoặc là cầu phước thọ ở đời sau, cầu đặng thân trời thân người cho tạm khỏi khổ. Đó đều là những nguyện vọng trái với ý chỉ của Phật. Đức Phật hết lời bảo người mau ra khỏi sanh tử, mà người lại muốn vào sâu trong luân hồi. Đức Phật cặn kẽ khuyên người cầu sanh Cực Lạc, mà người lại muốn ở mãi nơi Ta Bà. Như thế thời một đời hành đạo, công phu trọn thả theo dòng. Ví như cày ruộng mà gieo hột cỏ, công nhọc thời có mà kết quả trọn không. Vì thế, nên nếu là người đã có lòng thiệt tin, phải lập tức thực hành chơn hạnh. Đã thực hành chơn hạnh, phải luôn phát chơn nguyện. Mãn đời sống thừa này, quyết định không sanh lên trời, không sanh nhơn gian, chỉ quyết định vãng sanh Tịnh Độ. Lập chơn nguyện như vậy mà niệm Phật, mới là thuận với lời dạy của Đức Phật. Mới không đến nỗi luống phí công phu, luống hao thì giờ. Các ngài nên cố gắng lấy ! Các ngài nên tinh tấn lấy !”.

Bốn năm sau, ông Sĩ Thuyên lại giáng thần một lần nữa nơi nhà ông Huỳnh Kính Phu để sách tấn chư hội hữu, lời lẽ rất thiết yếu.

Trích ở các bộ Nhứt Hạnh Cư Tập

Tây Phương Công Cứ Thơ Chứng

XV - NGÔ NGHIÊU CHÚC

Ông Nghiêu Chúc ở Tô Châu làm nghề đổ nến. Độc thân, trường trai, ngày đêm niệm Phật, ăn ở ngay thật. Vì ông có những điểm tốt ấy, nên các xưởng làm nến tranh nhau mướn ông. Trong khi làm mỗi lần đổ một gáo dầu vào khuôn, là ông niệm Phật năm ba câu.

Năm ông 71 tuổi, một hôm ông nói với chủ xưởng rằng : “Tôi có dành dụm được một số bạc, ý định để dưỡng già. Nay tôi niệm Phật đã thành công, vài ngày đây tôi sẽ vãng sanh Tịnh Độ, không cần đến số tiền ấy, xin kính tặng lại ông”. Chủ xưởng hứa sẽ thay ông mà làm phước sự. Ông mừng lắm, dẫn chủ xưởng đến chỗ cất tiền đếm được một nghìn lượng bạc. Chủ xưởng liền chia ra đem dâng vào các chùa để trai tăng.

Đến ngày hẹn, ông đoan tọa chắp tay niệm Phật an nhiên mà mất. Ông có lời trối nên dùng khánh để liệm. Ngày làm lễ trà tỳ, người đến đưa ông cả trên số vạn. Bấy giờ là năm Sùng Trinh thứ bảy, triều Minh.

Trích ở bộ Hiện Quả Tùy Lục

D 3 - CHƯ TÍN NỮ

I - CHÚC THỊ

Chúc Thị dì của ba anh em Viên Hoằng Đạo. Nhơn thường nghe ba cháu đàm luận về Phật pháp, Thị phát tâm chuyên cần niệm Phật và tụng Kinh Kim Cang.

Một hôm, Thị bảo người nhà rằng : “Đức A Di Đà Phật dạy, sau ba ngày sẽ đến rước tôi !”. Đến kỳ, Thị tắm gội, ngồi ngay thẳng giữa nhà. Các thân quyến ngồi chung quanh Thị để xem chừng. Giây lát Thị tự nói : “Đức Phật đã đến ! Giữa chặng mày phóng bạch hào quang dài chừng hai trượng”. Thị lại nói : “Tôi thấy một ông Sư cao lớn tướng hảo trang nghiêm. Ông Sư ấy tự xưng là Tu Bồ Đề rồi hóa làm một trăm mấy mươi ông Sư”. Trong hàng thân quyến có người lên tiếng nói : “Trong Kinh Kim Cang tất cả là 138 lần Tu Bồ Đề, phải chăng là đó ư !”. Mọi người thắp hương đồng thanh niệm Phật. Chúc Thị chắp tay mỉm cười mà mất. Liền lúc đó, một đứa tớ nhỏ 9 tuổi đương ngủ gật, bỗng nó la to rồi ôm mặt khóc. Hỏi cớ, nó nói : “Vừa rồi thấy hai người cao lớn mặc giáp vàng, tay cầm phan dài dẫn đường cho bà chủ đi. Cán phan quẹt nhằm mặt tôi đau quá !”. Mọi người dò xét coi, quả trên trán nó có dấu sưng bầm. Đến khi liệm, nơi thi hài của Thị phát mùi thơm lạ.

Trích ở Viên Trung Lang Tập

II - PHAN THỊ

Phan Thị Quảng Đàm vợ của Công Bộ Chủ Sự Lý Dương Xuân ở Dư Hà. Dương Xuân người lành, thích bố thí, và mỗi ngày thường niệm A Di Đà Phật. Sau khi từ trần được một năm, ông hiện hình cho Phan Thị thấy rồi đi thẳng lên lầu mở cửa sổ gọi to rằng : “Phải tu hành ! Phải tu hành !”.

Phan Thị thông nho giáo, lúc đầu hay bác bẻ Phật pháp, nhưng rồi quy kính Vân Thê Liên Trì Đại sư, ăn chay trường, tập thiền định. Ban đêm Thị thường ngồi kiết già tới sáng, siêng niệm Phật và làm các việc từ thiện. Cho người vay mượn tiền, Thị đều không lấy lời mà cũng không đòi hỏi.

Mùa Đông năm Vạn Lịch thứ 39, Thị nhuốm bệnh. Đến tháng Giêng sang năm, Thị tự biết không mạnh được bèn di chúc gia tài rồi bảo gia quyến rằng : “Tôi, ba đời trước là Phạn Tăng. Nay tôi theo Quan Thế Âm Bồ Tát về Tây phương”. Rồi Thị liền miệng niệm Phật không ngớt tiếng, co ba ngón tay mà qua đời. Đến khi liệm, cả mình mềm dịu nhẹ nhàng, sắc mặt tươi nhuần như hồi còn sống.

Trích ở Ngu Đức Viên Tập

III - NGÔ NỮ

Ngô Nữ, người Thái Thương. Khi sanh, cô ngồi kiết già mà lọt ra. Lớn lên cô quy kính Tam Bảo, ở với cha mẹ rất hiếu thảo. Cô không chịu lấy chồng, ai khuyên ép đến việc ấy, cô liền chỉ trời mà thề. Lúc đầu cô học chữ nghĩa nơi các anh các em, về sau cô đọc tụng Kinh Phật đều hiểu thông đại ý. Sớm tối cô kính cẩn lễ Phật. Cô mơ thầy thần truyền cho chú Chuẩn Đề bằng chữ Phạn. Phàm có ai bị bệnh rét, cô viết chữ chú trị liền lành. Một hôm cô tự biết được đời trước. Cô nói : “Đời trước làm Cao Tăng triều Tống, đời nay sanh làm con gái nhà họ Ngô đây, mục đích là để dìu dắt cha mẹ tu hành thôi. Đến năm 23 tuổi tôi sẽ thành đạo quả”.

Năm Sùng Trinh thứ 4, chính là năm 23 tuổi, cô kiết thất chuyên lo niệm Phật. Cuối mùa Đông năm ấy, cô nhuốm bệnh sơ sài. Cô viết kệ từ thế và tha thiết khuyên nhắc cha mẹ siêng năng tu trì đừng biếng trễ. Đến đúng ngọ, cô nằm nghiêng bên hữu mà tạ thế. Khi sắp liệm hồng quang ánh sáng trên mặt cô. Bà mẹ sửa tóc cho cô, mùi thơm lạ từ đỉnh đầu cô bay ra thấu đến ngoài cửa cả đêm không tan. Quàn thây 4 năm, rồi làm lễ trà tỳ, xương trong sáng như ngọc, đỉnh đầu biến thành màu huỳnh kim. Cha mẹ cô bèn xây tháp để thờ.

Trích ở Tục Vãng Sanh Tập

IV - LƯ THỊ

Lư Thị Trí Phước, vợ của Trình Quý Thanh ở Huy Châu. Quý Thanh vốn là một Phật tử tinh thông giáo lý, và nhiệt tâm đối với những việc phước thiện. Lư Thị luôn giúp đỡ chồng. Thị ăn chay trường, mỗi ngày niệm Phật một muôn câu. Thị tánh hiền từ, thương yêu kẻ dưới không bao giờ mắng tôi tớ.

Năm Sùng Trinh thứ 5, có bệnh nặng, Thị thỉnh Cổ Đức Pháp sư truyền ngũ giới, và bạch hỏi yếu lý Tịnh độ. Sau khi được Pháp sư giảng giải, Thị nhứt tâm cầu về Cực Lạc thế giới. Ông Quý Thanh đặt hương án tại phòng bệnh tụng Kinh Hoa Nghiêm. Đến phẩm “Nhập Pháp Giới”, ông giảng 53 đoạn tham tri thức của ngài Thiện Tài cho Thị nghe. Thị nghe đến đâu đều lãnh hội ý nghĩa đến đấy. Tụng Kinh xong, ông Quý Thanh lại sách tấn : “Trăm kiếp nghìn đời tại một phen này. Gắng sức về Tịnh Độ chớ dụ dự !”. Thị bèn to tiếng niệm Phật cả ngày liền đêm luôn đến nửa tháng. Mẹ ruột và con gái đến thăm, Thị tạ lỗi mà xin lui ra và bảo : “Xin đừng làm động tâm tôi !”.

Ngày mùng 8 tháng 11, thoạt thấy hoa sen hiện ra trước mặt, trên không Hóa Phật đưa tay, Thị mừng lắm lật đật tắm gội, chắp tay xoay mặt về hướng Tây, niệm Phật liền miệng, rồi nằm nghiêng bên hữu mà từ trần, được 39 tuổi. Lúc đó đương đúng ngọ trưa, đến chiều rờ đỉnh đầu Thị, hơi nóng có thể hơ tay.

Ngẫu Ích Đại sư chép truyện vãng sanh của Thị, và có lời khen Thị là hạng anh dũng trong hàng nữ lưu tu Tịnh độ.

Bệnh nặng mà to tiếng niệm Phật luôn ngày đêm cả nửa tháng là “đại tinh tấn”. Mẹ và con vào thăm mà không đoái đến là “dứt tình ái ân”. Hoa sen cùng Phật hiện, kiết tường niệm Phật mà đi là “quyết định được vãng sanh”.

Trích ở bộ Linh Phong Tông Luận

V - TỪ THỊ

Vợ của Lục Sinh ở Gia Định, chồng chết, Thị chuyên tu tịnh nghiệp. Bao nhiêu giấy nợ có giấy tới nghìn lượng bạc, Thị đều đem đốt hết không đòi. Bao nhiêu tư trang, Thị đem làm các việc phước thiện tất cả.

Sớm tối Thị lễ Phật, niệm Phật và tụng Kinh luôn mười năm không một ngày sót trễ.

Một đêm nọ, Thị kêu người nhà đến mà bảo : “Thấy phương Tây tỏa ánh sáng đó không ? Đã đến giờ tôi vãng sanh !”. Thị chắp tay to tiếng niệm Phật mà qua đời.

Xả tiền của và tư trang là “lìa tục nhiễm”. Giúp người, bố thí là “từ tâm”. Mười năm tu hành không một ngày sót trễ là “chuyên cần”. Ôi ! Người tu Tịnh độ mà đủ ba điều trên, có thể gọi là hy hữu, mà cũng là những ưu điểm quyết chắc được vãng sanh vậy.

Trích ở Vãng Sanh Tập

VI - HAI BÀ KÉO CHỈ

Mụ Phỉ vợ của Trầm Xuân Giao ở Hồ Châu, góa chồng hồi còn trẻ, mụ tự sống nuôi con với nghề kéo chỉ vải. Mụ ăn chay trường. Nhà thờ tượng Phật tam thế với cốt Quan Thế Âm bằng đàn hương. Mỗi ngày, Phỉ tụng Kinh Kim Cang một quyển, niệm Phật một nghìn câu làm định khóa. Dầu là lúc bận việc hay ốm đau, Phỉ cũng không để thiếu trễ.

Năm Sùng Trinh thứ 11, bệnh thời dịch hoành hành, ông Trương Thế Mậu, rể của mụ, rước mụ về ở nhà mình. Mụ chỉ mang theo cốt Quan Thế Âm Bồ Tát. Mụ ở riêng trên một từng lầu, mỗi ngày khóa tụng hồi hướng, mụ đều nguyện khói hương bay đến chỗ Phật tam thế, ba năm như vậy. Một hôm bỗng có khói hương cuộn vòng quanh lầu của mụ cả hai ngày đêm, rồi trên vách vôi trắng nổi lên tượng Phật tam thế, trang nghiêm đẹp lạ. Tiếng đồn xa gần người đến chiêm lễ mỗi ngày mỗi đông. Có người lấy phấn sạch chà thử, thời tượng càng nổi rõ, màu sắc càng bóng sáng hơn.

Sau đó bốn năm, mụ bảo con rể đưa mụ về nhà cũ. Mụ rưới quét, thắp hương lễ Phật tụng Kinh. Sáng ngày thứ ba, mụ tắm gội thay y phục, rồi ngồi ngay thẳng niệm Phật. Đến đúng ngọ, mụ bỗng gọi to : “Phật đã đến ! Xin từ biệt mọi người !”. Dứt lời, mụ niệm Phật vài tiếng mà mất. Thọ 73 tuổi.

Trích ở Châu Ngự Thừa Tục Tập

Mụ Trần người ở Thường Thục làm nghề kéo chỉ vải. Mụ quy tín Phật pháp, niệm Phật theo tiếng xe kéo chỉ luôn cả ngày không ngớt tiếng, ba mươi năm như vậy. Một ngày nọ, mụ kêu người con trai lại mà nói rằng : “Con không thấy bảo cái tràng phan đó ư ! Mẹ vãng sanh đây !”. Dứt lời, mụ vỗ tay cười lớn. Sau khi đi pha nước tắm gội xong, mụ liền chắp tay mà mất. Bấy giờ nhằm năm Thuận Trị thứ 10.

Thượng Thơ Ông Thúc Ngươn lúc đó còn hàn vi, được tin, đích thân đến xem, vẫn thấy mụ còn ngồi ngay thẳng vững vàng, khắp nhà mùi hương lạ ngào ngạt. Về sau, khi trứ tác bộ “Tịnh Độ Ước Thuyết”, Thượng Thơ ghi việc ấy vào để làm bằng chứng.

Trích ở bộ Tịnh Độ Ước Thuyết

VII - LÝ THỊ

Lý Thị mẹ của ông Lưu Đạo Long. Năm 40 tuổi, Thị ăn chay trường niệm Phật. Thị dọn một căn nhà sạch sẽ thờ đức Quan Thế Âm sớm tối lễ lạy. Mỗi thời, Thị niệm Phật một nghìn câu, dầu lúc đại hàn hay đại thử cũng y số không thiếu. Thị khắc bản Kinh Kim Cang để ấn tống.

Mỗi khi đến ngày sanh nhật, Thị dặn dâu con không được bày tiệc, chỉ nên cùng nhau lễ sám một ngày hay ba ngày.

Hai mươi lăm năm sau, mụ thỉnh chư Sư Tăng đến nhà tụng Kinh bảy ngày đêm. Thị mơ thấy đức Quan Thế Âm trao cho Thị một xâu chuỗi và bảo : “Cho ngươi xâu chuỗi này. Số hột chuỗi là thời hạn ngươi được vãng sanh !”. Thị tiếp lấy xâu chuỗi, đếm được năm mươi ba hột.

Qua năm sau ngày mùng ba tháng Năm, Thị kêu người nhà mà bảo : “Hôm nay tôi về Tây phương Cực Lạc thế giới, nên đồng thanh niệm Phật trợ tôi vãng sanh”. Bọn con dâu ngồi bên giường của Thị mà niệm Phật. Thị ngồi ngay thẳng trên giường xoay mặt về hướng Tây mà qua đời.

Trích ở tập Kim Cang Trì Nghiệm Kỷ

VIII - BA BÀ HIỆN SỰ LẠ

Trương Thị một mụ góa ở Thường Thục, an bần thủ tiết, chuyên trì hồng danh của Phật, không luận nơi nào và lúc nào, tiếng niệm Phật không hở.

Một ngày nọ, Thị đau kiết rồi chết, để lại một cái quần cũ rách hôi dơ lắm. Người ta đem quần ấy quăng dưới sông. Thoạt nhiên từ nơi chiếc quần dơ ấy, nhiều hoa sen nổi lên năm màu sáng rỡ, trôi bập bềnh đầy cả mặt sông. Mục kích sự lạ ấy, mọi người đều chắp tay kính lễ, rồi vớt cái quần rách ấy lên giặt sạch, đưa vào am trong làng để làm quần bàn trên bàn Phật. Bấy giờ là năm Thuận Trị nhà Thanh.

Trích Quả Báo Văn Kiến Lục

Lục Thị người Thường Thục, năm 20 tuổi góa chồng, Thị ăn chay trường giữ giới niệm Phật. Tánh nhã nhặn, không bao giờ Thị tranh cãi với ai. Năm 67 tuổi thời Thị chết. Khi thiêu quần áo của Thị, lửa đã tắt, bỗng thấy ánh sáng màu vàng chiếu lên, trong tro hiện rõ hơn hai mươi tượng Phật. Cả làng đều đua nhau đến xem, và đều cùng nhau thắp hương lễ bái. Bấy giờ là năm Khang Hi thứ ba.

Trích Quả Báo Văn Kiến Lục

Từ Thái Nghi mẹ của Từ Hạo Hiên ở Tiền Đường. Bà thờ Phật rất thành kính, mỗi ngày niệm Phật A Di Đà Phật. Bà họa tượng Phật, chung quanh tượng chấm vài nghìn vòng tròn để ghi số niệm. Mỗi khi niệm xong một bức, bà xếp lại đựng trong túi vải vàng.

Năm Khang Hi thứ 34, bà từ trần. Ngày bà mất, người nhà đem túi vải vàng ấy đốt trong chậu. Bỗng nghe trong chậu có tiếng nổ, mọi người bu lại xem, thấy có ánh sáng ngũ sắc chiếu lên, lan ra thành màu nâu. Trên màu nâu ấy hiện đền đài có lan can bao quanh, trong đền hiện vài mươi đóa hoa sen, trên mỗi hoa sen đều có một Đức Phật ngồi kiết già chắp tay. Hai bên Phật có chư Thiên đứng hầu. Mỗi mỗi hình tượng như bức họa màu phấn trắng. Ai được mục kích cũng chép miệng cho là sự lạ trong đời. Qua ngày sau, khều tro lật lại phía dưới túi lên xem, thời mặt dưới hiện hình tượng giống hệt như mặt trên. Chỉ có sau lưng mỗi tượng Phật, có hình một bà già cầm phất trần đứng hầu.

Trích ở tập Tính Trung Tập

IX - DƯƠNG THỊ

Dương Thị người Ngu Sơn. Vì bên họ mẹ đời đời học Phật, nên thị quy kính Phật pháp từ thuở còn bé. Sau khi về làm dâu nhà họ Trương, Thị liền lễ Sư Đức Chơn thọ Tam quy Ngũ giới, rồi đoạn tuyệt ái dục.

Năm 27 tuổi mang bệnh nặng, Thị phát nguyện cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, thỉnh tượng A Di Đà Phật về thờ, ngày đêm to tiếng niệm Phật. Đến ngày thứ năm, mùi hương chiên đàn thơm ngát cả nhà. Ngày thứ bảy, Thị thấy đức Quan Thế Âm Bồ Tát bảo : “Liên hoa chủng tử đã được nửa phần công, còn nửa phần chờ xem thủ đoạn của nhà ngươi !”. Thị chắp tay thưa : “Con phải làm thế nào ?”. Bồ Tát bảo : “Thả tay mà đi”. Thị liền trỗi dậy, ngồi kiết già, chắp tay cất tiếng niệm Phật mà vãng sanh.

Trích ở tập Tục Vãng Sanh

X - GIANG THỊ

Giang Thị, kế thất của ông Nghiêm Nhuận ở Dư Hàng. Ông Nghiêm vốn là đệ tử của Vân Thê, thực hành Pháp môn Tịnh độ.

Giang Thị từ khi về nhà họ Nghiêm, tu trì rất sốt sắng. Khuya gà vừa gáy hiệp đầu, Thị đã dậy quỳ trước bàn Phật niệm Phật một nghìn câu, rồi tụng Kinh niệm chú. Dầu là nhà quyền quý, nhưng tất cả các việc đốt đèn thắp hương, cho đến nước rửa nước uống v.v… Thị đều tự làm lấy, không bao giờ sai biểu tôi tớ.

Năm Khang Hi thứ 7, ngày mùng 6 tháng Ba, sau khi đi thời khóa sáng sớm xong, nghe trong mình mỏi mệt, Thị nằm tạm. Một lát sau, Thị bỗng to tiếng nói : “Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã đến !”. Thị hối pha nước, tắm gội xong, lên giường nằm nghiêng bên hữu mà mất. Đến giờ liệm, nhan sắc của thây Thị vẫn tươi nhuần, tay chân mềm dịu.

Trích ở bộ Tịnh Độ Toàn Thơ

XI - MẸ CON ĐỒNG VỀ CÕI PHẬT

Mụ Diếp 40 năm ăn chay trường quy y với Cổ Đàm Hòa thượng, mỗi ngày lạy Hoa Nghiêm Kinh, một chữ một lạy, được trọn ba bộ. Năm 81 tuổi, mụ thấy Thánh nhơn hiện thân màu huỳnh kim, liền niệm Phật mà qua đời.

Con gái của mụ Diếp là Lăng Thị, vợ của ông Trần Đình Biểu ở Ngô Quận, năm 40 tuổi, cũng trường trai quy y Cổ Đàm Hòa thượng, ngày đêm sáu thời Thị hành Đại Bi sám. Lạy Kinh Hoa Nghiêm được giáp hai bộ. Tuổi già, Thị chuyên tụng chú Đại Bi và niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Một hôm, Thị nhuốm bệnh nhẹ, thấy đức Quan Thế Âm hiện thân. Thị kêu người con gái lại mà bảo rằng : “Phật quang sáng cả nhà. Mẹ về Tây phương !”. Dứt lời, Thị nhắm mắt, thọ 69 tuổi. Bấy giờ nhằm năm Càn Long thứ 34.

Người con gái của Thị về làm dâu nhà họ Châu cũng tu hành rất tinh tấn. Mỗi ngày cô tụng Kinh Pháp Hoa, niệm A Di Đà Phật. Người trong thân thuộc cảm hóa phát tâm tu hành rất đông.

Trích ở bộ Thiện Nữ Nhơn Truyện

XII - BÀ DƯ

Bà Dư là thân mẫu của Chiêu Minh Hòa thượng.

Khi trụ trì chùa Cao Mân ở Dương Châu, Hòa thượng rước bà về ở một ngôi nhà bên cạnh chùa. Lúc đầu bà nhớ nhà lắm, hễ nói chuyện với Hòa thượng là nhắc đến việc nhà cửa sự sản thân thuộc. Hòa thượng mới giảng giải các pháp khổ, không, vô thường, vô ngã và khuyên bà nhứt tâm niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. Bà không làm theo, Hòa thượng bèn ẩn mặt, bà cho người mời Hòa thượng cũng không đến. Bà không biết làm sao phải gắng gượng niệm Phật, nhưng bữa niệm bữa không, vì việc niệm Phật với bà là một sự khổ. Ba năm sau, niệm Phật ngày quen lần, bà tự phát tâm tin hướng, thọ Bồ Tát giới, sớm tối lễ bái niệm Phật rất chuyên cần. Hòa thượng đến thăm hỏi còn nhớ nhà không ? Bà đáp : “Niệm Phật tốt lắm ! Tôi không còn nhớ nhà nữa”.

Một hôm, bà đương ngồi trước sân niệm Phật, phương Tây bỗng tỏa ánh sáng, tất cả nhà vách rừng cây đều ẩn mất, bà thấy thấu đến Cực Lạc thế giới. Mừng quá, bà đứng dậy đi thẳng qua, thoạt không còn thấy nữa. Từ đó trở đi, sáu căn của bà tịch tịnh, trong tất cả thời không sanh vọng niệm. Chỉ một câu Phật tiếp tục nơi tâm. Ít lâu sau, một đêm nọ bà mơ thấy mình đến một nhà lá, trong ấy có đàn bà đang chuyển bụng. Bà giật mình nói : “Sao tôi lại đến chỗ này ? Vào thai ra thai và sanh tử khổ, thật đáng ghê đáng sợ. Tôi luôn mong mỏi được sanh về Cực Lạc thế giới kia mà !”. Bà vội vàng chạy ra khỏi nhà ấy rồi vụt choàng thức dậy.

Sáng hôm sau, bà nói với Chiêu Minh Hòa thượng : “Tuổi đời của tôi đã mãn. Xin thỉnh chư Sư Tăng niệm Phật, trợ tôi vãng sanh”. Rồi giữa lúc chư Tăng đồng thanh niệm Phật, bà ngồi ngay thẳng, xoay mặt về hướng Tây mà tạ thế. Lúc đó nhằm năm Càn Long thứ 27.

Trích ở tập Thiện Nữ Nhơn Truyện

XIII - MỤ DƯƠNG

Mụ Dương người Hàng Châu. Năm trên năm mươi tuổi, mụ bị bệnh phong, nằm cứng lưng, ngày đêm rên rỉ. Sư Lữ Đình từ kinh sư về Thiên Mục ghé nhà mụ. Con trai của mụ thỉnh Sư vào nhà sau thăm mụ. Mụ sụt sùi nói với Sư rằng : “Bệnh khổ lắm ! Thầy có phương gì cứu tôi chăng ?”. Sư nói : “Có ! Nhưng sợ bà không chịu uống”. Mụ thưa : “Nếu thiệt như vậy, tôi xin uống”. Sư bảo : “Bà nghe kỹ đây ! Bệnh từ nơi thân mà sanh, thân từ các duyên giả hiệp mà có. Bà xả được thân thời bệnh tự mất”. Mụ hỏi : “Làm sao xả được thân ?”. Sư bảo : “Bà đem cả thân buông bỏ, nhứt tâm tưởng Tây phương Cực Lạc thế giới chuyên niệm A Di Đà Phật. Đức A Di Đà Phật là đấng Đại Y Vương chữa được bệnh khổ của tất cả chúng sanh. Chí thành niệm Phật thời Phật tự đến cứu bà”. Mụ gạn : “Thiệt Phật đến ư ?”. Sư đáp : “Đến ! Chỉ lo bà niệm Phật không chí thiết thôi !”.

Sau khi Sư đi, mụ liền niệm danh hiệu của Phật và tưởng nhớ Tây phương Cực Lạc, mỗi ngày mỗi khẩn thiết hơn. Năm tháng sau, mụ nói với người con rằng : “Đức A Di Đà Phật đã đến ! Bốn ngày sau nữa má sẽ về Cực Lạc. Con đón thỉnh Đại sư Lữ Đình cho má tạ ơn”. Lúc đó Sư Lữ Đình đã về Thiên Mục rồi, đường xa không thể thỉnh được.

Đến ngày thứ tư, thỉnh mười vị Tăng đến nhà trợ niệm. Mụ Dương tự trỗi dậy đoan tọa chắp tay niệm Phật mà mất. Bấy giờ là năm Càn Long thứ 36.

Trích ở tập Thiện Nữ Nhơn Truyện

XIV - DƯ THỊ

Dư Thị Chơn Tu, vợ họ Châu ở Ngô Quận, năm 32 tuổi góa chồng. Đến năm 36 tuổi Thị ăn chay trường thờ Phật. Năm trên năm mươi tuổi, thị giao cả việc nhà cho dâu con mà chuyên tu tịnh nghiệp.

Năm 70 tuổi, tháng Sáu, Thị mơ thấy đi đến bờ sông, trên sông có chiếc thuyền lớn chở Tỳ kheo Ni và Ưu bà di chừng mười mấy người. Một người trong thuyền kêu Thị mà bảo rằng : “Đi Tây phương Cực Lạc thế giới !”. Thị tự nghĩ thầm bây giờ chưa đi, chờ cuối năm sẽ đi. Trong thuyền liền có tiếng bảo : “Hãy chờ thuyền sau !”.

Đến ngày mùng 6 tháng Chín, Thị mơ thấy Đức A Di Đà Phật hiện thân tiếp dẫn. Sau khi thức giấc, Thị tự biết giờ vãng sanh đã đến, bèn thỉnh Sư Văn Kỳ, thầy quy y cho thị, đến nhà để Thị tạ ơn và từ biệt. Sư khuyến tấn. Thị càng chí thiết niệm Phật, mùi hương lạ ngào ngạt, khắp trong ngoài đều nghe.

Đến sáng sớm ngày 11, Thị tắm rửa thay y phục mới, rồi đoan tọa niệm Phật. Một lát sau, Thị nằm nghiêng bên hữu mà qua đời. Nhằm năm Càn Long thứ 36.

Trích ở bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục

XV - LƯƠNG NỮ

Lương Nữ người Phần Dương, đôi mắt mù từ thuở trẻ. Có một Sư Tăng bảo Nữ niệm A Di Đà Phật. Nữ bèn chuyên cần niệm Phật. Ba năm sau, hai mắt thật sáng tỏ. Từ đó lòng kính tin càng sâu, ngày đêm Nữ niệm Phật không hở.

Một hôm, Nữ thấy tràng phan bửu cái từ trên không giáng xuống, đồng thời Phật và Bồ Tát cũng đến tiếp dẫn, Nữ liền từ biệt thân quyến, chắp tay mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ


[1] Hành pháp : Công hạnh tu trì. Bốn môn Tam muội :

 1. Nhứt hạnh Tam muội

 2. Pháp Hoa Tam muội

 3. Bát chu Tam muội

 4. Tùy tự ý Tam muội 


^