Trang chủ >> Thượng tọa Thích Hoằng Tri

Phật tử với niềm tin Tam Bảo

- THÍCH HOẰNG TRI -

Nam-mô A-mi-đà Phật.

Kính thưa quý Phật tử.

Hôm nay, là kỷ niệm ngày vía Đức Địa Tạng, là ngày Thọ Bát cuối tháng 7, tháng mà chư Tăng an cư kiết hạ đã viên mãn và cũng là tháng của lễ hội mùa báo hiếu Vu lan. Đây là nét đẹp văn hóa, là truyền thống hiếu đạo của nhà Phật. Song, bên cạnh đó, theo dân gian người ta gọi tháng 7 là tháng cô hồn. Nhân đây, trong bài báo của báo Giác ngộ, có đặt câu hỏi: “Quan điểm của đạo Phật về tháng cô hồn”, chúng tôi sẽ đọc lên và triển khai lại để quý vị hiểu rõ hơn về tháng 7, rồi từ đó biết được chánh pháp, dẹp trừ những hiểu biết lệch lạc, lưng chừng giữa đời và đạo.

“HỎI: Trong dân gian xem tháng Bảy âm lịch là “tháng cô hồn”, tháng của ma quỷ. Đặc biệt rằm tháng Bảy là ngày mở cửa địa ngục để ma quỷ được tự do về dương thế. Dân gian tin rằng từ mùng hai tháng Bảy, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ môn quan và cao điểm là ngày rằm tháng Bảy thì xả cửa để cho ma quỷ tự do đến sau 12 giờ đêm thì kết thúc. Thế nên tháng Bảy cần kiêng kỵ nhiều điều để không bị ma quỷ làm hại, nhất là trong ngày rằm tháng Bảy nhà nào cũng phải có lễ cúng cho cô hồn ăn uống no nê, đốt vàng mã thật nhiều chứ còn để họ đói khát, thiếu thốn là sẽ bị quấy phá. Xin cho biết, quan điểm của đạo Phật về vấn đề này thế nào?

(DIỆU PHÚC, Trần Hưng Đạo, Q.5, TP.HCM)

ĐÁP:

Bạn Diệu Phúc thân mến!

Trước hết, xin khẳng định việc gọi tháng Bảy là “tháng cô hồn” chính là quan niệm dân gian. Phật giáo Bắc tông gọi tháng Bảy là mùa lễ hội Vu lan-Báo hiếu. Trọng tâm của lễ hội Vu lan-Báo hiếu nhằm giáo dục người Phật tử về lòng hiếu thảo, biết nhớ ơn và lo đền ơn các đấng sanh thành, để rồi từ đó tu dưỡng đạo đức, sống hiếu thảo tốt đời đẹp đạo.

Dựa theo kinh Vu lan với sự tích Tôn giả Mục-kiền-liên cứu mẹ, nhân ngày chúng Tăng mãn hạ Tự tứ, các Phật tử phát tâm cúng dường mười phương Tăng, hồi hướng công đức phước báo nguyện cầu âm siêu dương thái. Nhân dịp này, các Phật tử còn thiết lễ cúng kiếng ông bà cha mẹ quá vãng, đồng thời trải lòng bi mẫn sắm sanh lễ vật bố thí chư vị quỷ thần (người âm nói chung), thường gọi là thí thực cô hồn.

Như vậy, theo quan điểm của đạo Phật, lễ hội Vu lan-Báo hiếu vào tháng Bảy âm lịch là “tháng báo hiếu”, hoàn toàn không phải là “tháng cô hồn”. Tuy

nhiên hiện nay, tháng Bảy mùa hội Vu lan-Báo hiếu có ý nghĩa trọng tâm là giáo dục lòng hiếu thảo cho con người rất nhân văn và cao cả của đạo Phật đang có nguy cơ bị không ít người hiểu sai, bị dân gian hóa theo hướng cầu cúng ma quỷ, nhuốm màu tà kiến, mê tín.

Chúng ta đều biết, kinh Vu lan có mặt rất sớm ở Trung Quốc (do ngài Trúc Pháp Hộ [226-304] dịch vào đời Tây Tấn  [265-317]) và có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội thời bấy giờ. Người Trung Quốc xưa tiếp thu tinh hoa hiếu đạo của kinh Vu lan nhưng đồng thời có sự tiếp biến với văn hóa bản địa thành tín ngưỡng dân gian: “Tháng Bảy âm lịch là tháng cô hồn, rằm tháng Bảy là ngày mở cửa địa ngục để ma quỷ được tự do về dương thế. Từ mùng hai tháng Bảy, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ môn quan và cao điểm là ngày rằm tháng Bảy thì xả cửa để cho ma quỷ tự do đến sau 12 giờ đêm thì kết thúc”.

Phật giáo Bắc tông Việt Nam chịu khá nhiều ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc, nên ngoài việc đọc tụng và thực hành hiếu đạo theo kinh Vu lan, một bộ phận quần chúng Phật tử và trong dân gian còn ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, tin vào “tháng cô hồn” (sâu đậm ở miền Bắc). Vấn đề là người Phật tử Việt Nam hiện nay cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, kinh Phật không hề nói đến việc Diêm Vương mở cửa địa ngục vào tháng Bảy. Nên không có ngày “âm khí xung thiên”, ma quỷ đồng loạt tràn lên dương thế phá phách, xin ăn mặc vào ngày rằm tháng Bảy. Nếu tin vào việc Diêm Vương mở địa ngục vào tháng Bảy, rồi thành lệ: “Tháng Bảy cần kiêng kỵ nhiều điều để không bị ma quỷ làm hại, nhất là trong ngày rằm tháng Bảy nhà nào cũng phải có lễ cúng cho cô hồn ăn uống no nê, đốt vàng mã thật nhiều chứ còn để họ đói khát, thiếu thốn là sẽ bị quấy phá” là không phù hợp với Chánh pháp.

Người Phật tử chân chính cần xác định rằng: Ngày rằm tháng Bảy là ngày Tăng tự tứ, ngày Tăng thêm tuổi hạ, ngày Phật hoan hỷ. Đối với Phật tử thì tháng Bảy là thời điểm để mỗi người trau dồi, làm tăng trưởng thêm tâm hiếu và hạnh hiếu. Còn việc “thí thực cô hồn” trong dịp này cũng rất tốt, là hạnh bố thí cho quỷ thần được no đủ nhưng chỉ là một lễ tiết có tính thứ yếu trong mùa lễ hội Vu lan mà thôi. Cần lưu ý là, thực hành bố thí - ở đây là “thí thực” - nên lễ phẩm chủ yếu là thực phẩm, không nên quá lãng phí cho việc mua sắm vàng mã, rải tiền lẻ v.v...  Đặc biệt là không nên kiêng kỵ và sợ hãi ma quỷ theo kiểu mê tín dị đoan. Thiết nghĩ Giáo hội cũng như chư vị Tăng Ni cần hướng dẫn cho Phật tử tu học đúng Chánh pháp trong mùa Vu lan - Báo hiếu, nhất là tránh gọi tháng Bảy là “tháng cô hồn” rồi quá chú trọng đến cầu cúng ma quỷ theo dân gian.

Chúc bạn tinh tấn! ”

Qua bài vấn đáp vừa rồi chúng ta thấy rõ ràng quan niệm cho tháng bảy là tháng cô hồn là hoàn toàn sai lệch, đó chỉ là theo mê tín dị đoan của người Trung Quốc. Rằm tháng 7 là ngày chư Tăng Tự tứ và là ngày chư Phật đại hoan hỷ. Tại sao lại hoan hỷ? Bởi vì chư Tăng sau ba tháng an cư, thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, cố gắng tu tập để đạt được  kết quả nhất định nào đó, cho nên chư Phật rất hoan hỷ. Hoan hỷ khi thấy một người đệ tử của mình cố gắng tu tập và sau mùa an cư thì tất cả quý vị Tăng Ni, quý vị thọ Tỳ kheo rồi đều được tăng thêm một tuổi đạo, cho nên chư Phật rất là hoan hỷ, tháng chư Phật hoan hỷ như vậy mà mình gọi là tháng cô hồn thì quá là đau buồn. Thậm chí trong tháng 7 muốn làm gì cũng không dám làm, cất nhà cũng không dám cất, cưới hỏi cũng không dám cưới, đó là do mình có những tư tưởng tà kiến, chưa hiểu đúng về chánh pháp. Trong khi đó, tháng 7 lại là một tháng truyền thống rất là tốt đẹp của mùa Vu Lan qua sự tích của Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên cứu mẹ. Noi gương theo Ngài, Phật tử cúng dường chư Tăng vào ngày Tự tứ để cầu nguyện cho ông bà cha mẹ nhiều đời, hiện còn thì được tăng nhiều sức khoẻ, phát tâm tu tập, còn cha mẹ quá vãng thì nhờ công đức đó được vãng sanh về cõi Phật. Cho nên tháng 7 là tháng rất nhiều công đức. Mặc dầu trong những tháng khác chúng ta vẫn có sự tu tập, nhưng đặc biệt là tháng 7 nương nhờ công đức tu tập ba tháng hạ của chư Tăng để mà chú nguyện cho ông bà cha mẹ, từ đó mà phát tâm tu tập, bố thí, cúng dường, cho nên trong tháng mình có làm những việc chi cũng đều là tốt. Người ở thế gian thì mỗi khi  làm một việc gì thì đi coi ngày giờ, tuổi tác. Nhưng quý vị thấy rằng ngày giờ mà có thể quyết định được tốt xấu thì không cần ai phải tu tập nữa. Vì thế ngày nào mà mình có tụng kinh, có niệm Phật, có cúng dường thì ngày đó là ngày tốt, còn nếu mà mình cho rằng ngày tháng, tuổi tác trong sách vở là tốt thì mình không cần làm phước, không cần tu tập, thì làm sao phước sanh ra được? Quý Phật tử có lòng tin sâu chắc vào Tam Bảo thì phải biết mình có tạo công đức thì mới có cái phước sanh ra, còn nếu mình không có tạo, không tu tập thì cái phước không bao giờ đến với mình được hết, bản thân mình phải cố gắng tu tập, có tu tập thì sanh ra cái phước, chứ không thể tự nhiên cái phước mà có được. Quý vị nên cố gắng tìm hiểu Phật pháp để có lòng tin nơi vào Tam Bảo, từ đó nương theo lời dạy của Đức Phật rồi thực hành trong đời sống hàng ngày để không bị ảnh hưởng những tư tưởng lệch lạc rồi bị trói buộc bởi ngày giờ thì không nên. Mình thấy rằng trong tháng 7 sở dĩ hương linh ông bà, cha mẹ hoặc những hương linh rơi vào ba đường ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh được ra khỏi chốn khổ đó là do công đức chúng ta tu tập, cúng dường, hồi hướng nên những tội nhơn, những người bị đoạ nhờ công đức đó mà ra khỏi cái khổ, đây chính là đạo lý nhân quả. Chính mình có tâm hướng về nỗi khổ niềm đau của những người bị đoạ, rồi mình làm các công đức, cúng dường chư Tăng, phóng sanh hồi hướng, thì đương nhiên là nhờ những công đức đó mà những người đang bị thọ khổ trong 3 đường khổ đó sẽ được giải thoát. Không những ở trong tháng 7 mà trong những ngày tháng khác nếu chúng ta có sự tu tập, chúng ta có sự hồi hướng đến thì họ cũng được kết quả như vậy. Nhưng mà trong tháng 7 do nét đẹp của truyền thống và nhơn duyên của Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên mà tháng 7 chúng ta tập trung, hướng về những người bị rơi vào những đường khổ như vậy nhiều hơn. Vì thế mà tháng đó được kết quả như vậy chứ không phải tháng 7 là tháng mà Diêm Vương mở cửa địa ngục cho ma quỷ về dương thế, điều đó không bao giờ được và Diêm Vương cũng không có cái quyền đó nữa. Sở dĩ những người thọ khổ được giải thoát là do sự tu tập, sự hồi hướng của người thân mà được giải thoát chứ không ai mà có cái quyền mở cửa địa ngục, chuyện đó không bao giờ có, quý vị nên có lòng tin sâu chắc như vậy vào Tam Bảo.

Ở đây việc Quy y Tam Bảo là một việc rất quan trọng. Chúng ta thấy rằng có nhiều hương linh do thiếu duyên lúc sanh tiền chưa được Quy y Tam Bảo, nhưng khi đã mất rồi nhờ sự hồi hướng, sự giảng giải, cũng như là đang thọ lãnh những cái khổ mà do trong lúc sanh thời mình đã tạo nhiều nghiệp dữ, những hương linh đó rất muốn được về chùa, được nương vào Tam Bảo để được thoát khỏi những khổ nạn do mình đã gây tạo. Có rất nhiều trường hợp về báo mộng cho người thân hoặc là dựa vào những người trong gia đình để yêu cầu gia đình đưa mình đến chùa để mà được Quy y, đó là những việc xảy ra rất thường. Cho nên chúng ta thấy rằng bởi vì khi bình thời tạo nhiều nghiệp dữ thì chắc chắn rằng khi mạng chung rồi thì phải rơi vào ba đường ác, mà đã rơi vào ba đường ác rồi thì luôn luôn phải thọ khổ, chứ không thể nào theo quan niệm của một số người khi cúng kiếng cho người thân rồi mua nhà cửa, xe cộ, tiền bạc để đốt cho người thân mình được thọ dụng, nếu mà làm như vậy mà người thân họ được hưởng thì không cần ai phải tu tập hết, chỉ cần người nhà bỏ ra ít tiền mua đốt thì xuống dưới tha hồ mà xài. Về mặt tâm lý thì rõ ràng như thế là mình muốn người thân mình luôn luôn ở dưới để mà thọ dụng điều đó. Khi người thân có phước báo sanh lên những cảnh giới cao hơn thì chắc chắn rằng là không cần thiết. Nói về tâm lý là như vậy, chứ còn việc thọ nhận được hay không thì rõ ràng mình thấy kết quả không bao giờ hưởng được hết, bởi khi mà đã rơi vào ba đường ác rồi thì luôn luôn thọ những quả khổ. Nếu nói rằng đã rơi vào đó rồi mà được ở nhà lầu, đi xe hơi, tiền bạc xài thoải mái, chuyện đó là chuyện vô lý không bao giờ có được, quý vị nên nắm hiểu rõ, không nên làm những điều phung phí, hao tốn tiền của mà không có lợi ích gì. Việc này cũng có nguồn gốc rõ ràng từ người dân Trung Quốc khi người thân họ mất thì họ sẽ chia gia tài hẳn hoi và chôn theo người mất. Những gia đình giàu có đó khi chôn cất xong lại bị những kẻ đạo chích, những kẻ xấu tìm cách đào mồ cuốc mả lên để lấy. Do tệ nạn đó mà người ta làm đồ giả để thế vô, rồi mình cứ tưởng làm như vậy là gửi cho người thân sử dụng, thậm chí để hối lộ Diêm Vương nữa, đó là những quan niệm rất là sai lầm. Chúng ta là những người con Phật phải có lòng tin sâu chắc vào Tam Bảo và nhất là đối với giáo lý nhân quả, chúng ta tạo nhân gì thì sẽ gặt quả đó.

Ở đây chúng tôi cũng xin nhắc đến một điều quan trọng nữa là việc Quy y Tam Bảo, chúng ta thường nghe được rằng hễ mà Quy y Tam Bảo thì không bị đoạ vào vào địa ngục, không bị đoạ vào ngạ quỷ, không bị đoạ vào súc sanh. Đó là điều rất chính xác, nhưng chính xác ở đây là chúng ta phải thực sự Quy y chứ không phải chỉ nói trên hình thức hoặc nói một đằng làm một ngả. Chúng tôi thấy rằng mặc dù là Phật tử thuần thành nhưng khi chúng tôi đến nhà quý vị thì Thần Tài, Thổ Địa vẫn thờ, việc đó rõ ràng là chưa có lòng tin vào Tam Bảo và chưa thực sự là Quy y Phật. Trong chứng điệp Quy y chúng ta thấy: “Quy y Phật thì không quy y thiên thần, quỷ vật”, nhưng chúng ta lại thờ Thần Tài, Thổ Địa nghĩ rằng Đức Phật và Bồ tát không có gia hộ tạo tiền bạc cho mình xài, chỉ có ông Thần Tài, Thổ Địa mới tạo tiền bạc cho mình xài cho nên không có bỏ được. Như vậy thì chưa thật sự rốt ráo, chưa đặt trọn niềm tin vào Tam Bảo. Như thế thì sẽ không được kết quả là không đoạ địa ngục, vì sao? Vì quý vị chưa có thực sự hoàn toàn quy y Tam Bảo. Gần đây chúng tôi có họp với quý Thầy về bài kệ Quy y cho hương linh sẽ đọc nghĩa để cho những người thân trực tiếp nghe được những điều Quy y Tam Bảo và sau nữa là để những hương linh nắm được cái cốt yếu của Quy y Tam Bảo. Bài Quy y như thế này: “Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy Y Tăng. Quy y Phật, trọn đời không quy y thiên thần quỷ vật. Quy y Pháp, trọn đời không Quy y tà pháp, ngoại đạo. Quy y Tăng, trọn đời không Quy y thầy tà bạn ác. Quy y Phật rồi, thời không đoạ địa ngục. Quy y Pháp, rồi thời không đoạ ngạ quỷ. Quy y Tăng rồi, thời không đoạ súc sanh. Chữ “rồi” là như thế nào? Là mình đã thực sự Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng. Chúng tôi nhắc lại để tất cả quý Phật tử chánh tín nhận thức rõ ràng về Tam Quy y và có lòng tin sâu vào Tam Bảo, tin sâu vào nhân quả. Mình thấy mình là người Phật tử thuần thành nhưng nhân quả mình chưa có niềm tin sâu chắc thì đừng nói đến những giáo lý cao siêu khác. Phải có sự quán xét, tư duy thì sự tu tập đúng chánh pháp mới đem lại những lợi lạc theo đúng ý nghĩa của nó. Nhắc lại nhiều lần như thế, để quý Phật tử nhận rõ mà áp dụng đúng lời Phật dạy để được kết quả tốt đẹp.

Nhân ngày hôm nay chúng tôi cũng xin đọc lại 10 điều Tông chỉ mà Sư Ông đã đặt ra để hướng dẫn quý Thầy cũng như quý Phật tử tu tập Pháp môn niệm Phật khi thành lập hội “Cực Lạc Liên Hữu” vào năm 1955. Trước năm 1955, pháp môn Tịnh độ là pháp môn chủ yếu cho sự tu tập của chư Tăng Ni cũng như Phật tử, nhưng mà sự tu tập không có chuyên nhất và tông chỉ rõ ràng. Chỉ tụng Kinh A Mi Đà, niệm Phật vài xâu chuỗi rồi hồi hướng thì cho đó là tu pháp môn Tịnh độ. Bắt đầu từ khi Sư Ông xuất gia, qua quá trình tiềm hiểu kinh điển và thấy được cái thiết yếu của  pháp niệm Phật nên sư ông đã thành lập hội “Cực Lạc Liên Hữu” để khuyến tấn hàng xuất gia cũng như tại gia tu tập, ngõ hầu một đời này giải quyết được vấn đề sinh tử luân hồi, một đời này được giải thoát vãng sinh về Cực Lạc. Mặc dù nghiệp chướng chưa dứt nhưng khi đã được sinh về cõi Cực Lạc rồi thì không còn duyên khởi những nghiệp quấy ác mà tu tập từ từ đạt đến quả vị Phật, đó là đặc điểm thù thắng của pháp môn niệm Phật. Khi hội “Cực Lạc Liên Hữu” ra đời chư Tăng Ni, Phật tử tu hành rất thuần thành, tinh tấn. Từ đó, Sư Ông cũng có làm ra quyển công cứ để quý vị niệm được số lượng bao nhiêu xâu chuỗi mà ghi lại nhằm đánh giá quá trình thực hành tu tập của mình. Thời gian sau này, khi Sư Ông được cung thỉnh làm việc cho Giáo hội, do vướng bận vào những công việc chung cho nên hội “Cực Lạc Liên Hữu” không còn sinh hoạt nữa, cho đến về sau Thầy Chân Tính ở chùa Hoằng Pháp đi nước ngoài thấy đạo tràng niệm Phật ở Đài Loan, Thầy về áp dụng mở những khoá tu niệm Phật, dần dần lan rộng ra cho tới bây giờ thì pháp môn niệm Phật gần như rất phổ biến. Cũng như thời gian sau này ở đạo tràng chúng ta do ảnh hưởng đó mà bắt đầu khơi dậy trở lại và nhớ lại những điều Sư ông đã dạy rồi thực tiễn tu tập.

Mặc dù hội “Cực Lạc Liên Hữu” không còn sinh hoạt nữa nhưng mà những người nằm trong tổ chức đó, những vị đệ tử xuất gia cũng như tại gia của Sư Ông nương nơi lời dạy của Sư ông mà quý vị vẫn âm thầm tu tập rất là tinh tấn. Cụ thể là chú Minh Đức ở gần bệnh viện Bình Dân, lúc trước chú hay lên Sư Ông và làm một quyển sổ công cứ, chú phát nguyện niệm danh hiệu Phật A Mi Đà mỗi ngày, niệm một câu lạy một lạy, mỗi ngày niệm một ngàn câu không để trể nản, ngày nào bận công việc phật sự thì ngày hôm sau phải lạy bù lại, và đến ngày vía Phật A Mi Đà thì Chú đem quyển sổ trình Sư Ông chứng minh. Đó là một trong những hội viên của hội“Cực Lạc Liên Hữu” và cũng như còn rất nhiều người khác như thế nữa. Chúng ta là hàng đệ tử chịu sự giáo hoá của Sư Ông, thì mỗi Thầy, mỗi Sư cô, mỗi Phật tử tự nhận mình là một liên hữu, là một bạn sen trong pháp môn Tịnh độ nương theo lời dạy của Sư ông để tu tập.

Tôi xin đọc lại  10 điều tông chỉ pháp môn niệm Phật của Sư Ông. Nguyên văn như sau: Huynh đệ tu pháp môn niệm Phật, cầu vãng sinh nơi ao sen thất bảo ở Cực Lạc thế giới nên nhớ:

1.        “Tin sâu nguyện thiết, chuyên niệm câu “Nam Mô A Mi Đà Phật” để cầu thoát ly sanh tử, vãng sanh Cực Lạc thế giới.” Đây là điều tiên yếu nhất của pháp môn tịnh độ, đó là 3 điều kiện Tín - Nguyện - ạnh là không thể thiếu được và mục đích rốt ráo là cầu thoát ly sanh tử, cầu vãng sanh Cực Lạc thế giới.

2.        “Lấy giới luật làm căn bản, lấy tứ hoằng thệ nguyện làm bổn phận, chúng xuất gia thì trì giới xuất gia, chúng tại  gia ít nhất phải đủ 5 giới”. Chúng tại gia có thể thọ trì năm giới, hoặc bát quan trai giới, hoặc thập thiện, cao hơn nữa là Bồ tát giới tại gia. Nhưng mà ở đây Sư Ông nói ít nhất  là phải có 5 giới, đó là căn bản thiết yếu.

3.        Trong một ngày một đêm phải thành thật tự nhận rằng mình đã chánh niệm, chắc chắn ít nhất là một một ngàn  câu “Nam mô A Mi Đà Phật”. Một ngàn câu này tương ứng với mười xâu chuỗi, nhưng ở đây Sư ông nhấn mạnh chỗ “thành thật tự nhận rằng mình đã được chánh niệm một ngàn câu”, điều đó không phải là dễ, bởi vì chúng ta niệm mà còn xen tạp thì gọi là vọng niệm, cho nên một ngàn câu mà được chánh niệm thì rất là khó. Quý vị cũng nên tuỳ theo sức lực và hoàn cảnh của mình mà có một sự ấn định cho mình một ngày phải niệm bao nhiêu, phải chắc chắn là niệm trong chánh niệm rồi từ từ tăng lên chứ không nên lúc đầu tham nhiều rồi dần lui sụt.

4.        “Những huynh đệ ở gần nhau nên để ý khuyên răng về những việc đến đi xem coi nói năng và sách tấn nhau đồng tinh tấn tu niệm”. Ở đây là lợi ích của cộng đồng, mình ở trong một đạo tràng mình thấy những huynh đệ ở gần mình có những việc làm chưa đúng thì mình khuyên nhắc để cùng nhau sửa đổi tu tập, cũng những việc làm chưa tốt được huynh đệ khuyên nhắc thì nên hoan hỷ cảm niệm và sửa đổi. Đó là lợi ích của cộng đồng, của đạo tràng chứ không phải gặp nhau rồi lại nói xấu người này người kia, đó là trái ngược với lời dạy của Sư Ông. Mình gặp nhau phải nhắc nhở những điều hay điều tốt để mà nương nhau tu tập.

5.        “Hằng ngày phải kiểm soát tư tưởng, hành vi của mình một cách ngay thẳng”. Nói ngay thẳng là phải công tâm nhìn nhận rằng trong một ngày mình đã làm được những việc gì tốt và chưa tốt. Những gì mình chưa tốt lại nguỵ biện tại như thế này, tại như thế kia, như vậy là không được thành thật. Thực sự mình chưa làm được điều tốt thì mình phải sửa đổi chứ không nên lấy lí do nguỵ biện cho việc làm sai trái của mình, “thành thật” là ở chỗ đó, “ngay thẳng” là ở chỗ đó.

6.        “Tự lập nguyện để sách tấn theo tâm bệnh và những khuyết điểm cá nhân, như người quen nói chuyện tạp thì phải tịnh khẩu” Đây là phương tiện để đối trị tạm thời đối với những thói hư tật xấu mà nó ăn sâu vào tư tưởng tâm ý chúng ta. Sư ông dạy những người hay nói chuyện thị phi thì nên dùng pháp tịnh khẩu. Tịnh khẩu tức là im lặng, không nói chuyện, chỉ để tâm tụng Kinh niêm Phật. Bởi tật xấu của mình gặp người quen là toàn nói chuyện phải quấy thế gian, thành ra phải dùng phương pháp tịnh khẩu để tập cho mình tính bớt nói chuyện, từ từ khi đã được rồi thì không cẩn phải tịnh khẩu nữa. Đây chỉ là phương pháp tạm thời để đối trị tâm bệnh của một số đối tượng chứ không phải cho tất cả”.

7.        “Thường xem kinh sách và tìm học về pháp môn Tịnh độ để có một trình độ hiểu biết phổ thông và có thể chỉ dẫn cho người khác cùng hiểu và thực hành”. Sư ông khuyên chúng ta nên thường tụng Kinh về Tịnh độ hoặc là xem những sách, đĩa chuyên giảng về Tịnh độ để có một trình độ hiểu biết giúp cho sự tu tập không bị sai lệch và giúp đỡ hướng dẫn lại những người xung quanh. Không nên chưa hiểu sâu về pháp môn Tịnh độ mà lại đi xem những cái khác dẫn đến bị những tư tưởng khác lung lạc. Khi chưa có lòng tin sâu chắc thì phải thường xem kinh sách chuyên sâu về Tịnh độ.

8.        “Cố gắng khuyên dạy, sách tấn những người gần và có duyên với mình đồng niệm Phật hoặc là soạn những tài liệu về Giáo lý Tịnh độ hoặc tuỳ sức làm cho những kinh sách được lưu thông”.  Đây là nói về những vị có khả năng thuyết giảng hoặc là có điều kiện in kinh hay sang băng đĩa để làm cho pháp môn được lưu thông thì mình nên làm, quý Thầy có khả năng về giảng dạy, thuyết pháp thì nên thuyết giảng để mọi người chung quanh hiểu được pháp môn Tịnh độ mà tu tập, còn những vị không có khả năng đó thì nên in những kinh sách hoặc băng đĩa về Tịnh độ phổ biến, đó cũng là điều tốt trong điều thứ 8 Sư Ông dạy vậy.

9.           “Những huynh đệ ở gần phải giúp đỡ và hộ niệm lẫn nhau khi quý vị nào bệnh đau hoặc gặp tai nạn”. Đây cũng là một điều rất quan trọng đối với liên hữu trong pháp môn Tịnh độ, những bạn tu với mình nói riêng và những người chung quanh nói chung, khi họ bị tai nạn hoặc sắp qua đời, mình phải có bổn phận trợ niệm, quan tâm giúp đỡ cùng dìu nhau thoát cái khổ nạn đó”.

10.     Khi hay tin huynh đệ quá cố, mình phải cố bổn phận hằng ngày hồi hướng, tạo những công đức để hồi hướng cho người đó đến 49 ngày”. Cuối cùng là đối với những bạn sen đã qua đời, chúng ta phải có cái bổn phận như vậy”.

Vừa rồi là 10 điều của Tông chỉ pháp môn niệm Phật mà Sư Ông đã đặt ra từ khi thành lập hội “Cực Lạc Liên Hữu”. Chúng ta bây giờ là những người đệ tử chịu sự giáo hoá của Sư Ông, vì thế cần phải nắm rõ 10 tông chỉ này để thực hành và kết duyên với những người chung quanh cùng thực hành. Những điều tông chỉ trên sau này chúng tôi sẽ khắc vào đá để ở những nơi cộng cộng hoặc là in ra những tấm ảnh lớn để quý vị thường thấy, thường nhớ mà nhắc nhở mình thực hành để sự tu tập đạt được an lạc, giải thoát, và cũng là để đền ơn giáo hoá của Sư ông đã dày công tạo dựng những cơ ngơi để cho chúng ta tu hoc.

Nhân ngày hôm nay, chúng tôi có những điều triển khai như vậy để cho tất cả quý vị nắm được mà trên đường tu tập của mình sao cho đúng chánh pháp và cũng như nương theo lời dạy của Sư Ông mà cố gắng tu tập pháp môn Tịnh độ, và cũng xin nhắc lại chúng ta phải tự nhận mình là một liên hữu mặc dù hội “Cực Lạc Liên Hữu” không còn nữa, nhưng mình chịu sự giáo hóa của Sư ông mình phải nương theo 10 điều trong tông chỉ để tu tập, để bản thân mình được lợi ích và những người xung quanh được an lạc, giải thoát.

Kính chúc quý vị Phật tử có một ngày tu học an lạc.

Nam-mô A-mi-đà Phật.

-         HẾT -
Ngày 29/07/Ất Mùi (2015).

 

 

 

 


^