Trang chủ >> Thượng tọa Thích Hoằng Tri

Thói quen tỉnh thức

DẪN NHẬP

Chúng con biết rằng giá trị chân thật phản ánh sự hưng thịnh hay suy yếu của một đạo tràng được thể hiện qua đời sống tu hành của mỗi hành giả. Chính vì trên ý nghĩa đó Sư Phụ đã có bài giảng nhắc nhở chư huynh đệ chúng con về thói quen sinh hoạt thường ngày. Nhận thấy được bài học quý báu ấy, Tiểu con chẳng nề hà sức học kém cỏi, gắng gượng ghi chép và biên soạn lại thành bài viết này, dưới sự cố vấn của Thầy giáo thọ Thích Pháp Đăng – Trụ trì chùa Huệ Viễn, và tạm đặt tên là “Thói quen cho sự tỉnh thức” nhằm dâng lên cúng dường Sư Phụ nhân kỷ niệm 64 năm ngày sinh của Sư Phụ và cũng nhằm chia sẽ những lời pháp nhũ thiết thực, giản đơn nhưng sâu sắc này đến với các bạn đồng tu.

Chúng con nguyện một đời này chân chánh tu tập theo lời Sư Phụ dạy. Ngưỡng nguyện hồng ân Tam Bảo hộ niệm cho Sư Phụ luôn khỏe mạnh để tiếp tục sự nghiệp hoằng dương Phật Pháp, mang ngọn đuốc trí tuệ soi sáng  cho chúng con cùng hết thảy chúng sanh đang sống trong cõi trần lao giả tạm này.

 Tiểu Nguyện Truyền  

 

 THÓI QUEN CHO SỰ TỈNH THỨC

 

Hôm nay, nói chuyện với các huynh đệ về đời sống sinh hoạt của một người xuất gia. Trong một tập thể, việc sinh hoạt phải có  nề nếp nhất định, tạo thành một thói quen tốt. Đối với bản thân mỗi người phải tự hoàn thiện, làm tròn trách nhiệm của mình. Nơi bổn phận nếu chúng ta để tâm làm hết sức mình thì sẽ cảm thấy rất là nhẹ nhàng, an lạc còn ngược lại lười biếng thì sẽ thấy rất vướng mắc, nhiều trở ngại.

 

A.             TRONG SINH HOẠT, LAO TÁC.

1.                        Vấn đề ngủ nghỉ.

Trước hết là mỗi buổi sáng, nghe kiểng báo thức thì mình phải ngồi dậy liền, ngay lập tức đọc bài Tỳ Ni khi thức dậy. Sở dĩ nói bật dậy liền là vì trong tâm chúng ta thường luôn có sẵn những ý niệm lười biếng nhiều hơn là siêng năng, khi không chịu dậy thì sẽ có nhiều lý do khởi lên (nào là đêm hôm thức khuya mệt mỏi, hôm qua bửa củi mệt nhọc…) từ đó mà chúng ta có quyền cho phép mình nghỉ thời khóa. Chúng ta cần tập cho mình một thói quen như vậy, sau khi thức liền đi vệ sinh, rửa mặt, thể dục…. thì nó sẽ dẹp sạch những ý nghĩ buông lung, buồn ngủ. Đã thành thói quen rồi việc thức dậy dễ dàng lắm, dứt khoát thức rồi, rửa mặt rồi không vô nằm tiếp hay ngồi ghế dựa nướng thêm, buổi sáng rất dễ hôn trầm vì thế mình phải linh hoạt cử động tay chân, đi tới đi lui tập thể dục để cho tỉnh táo, như mình có sự định tĩnh thì có thể ngồi học bài cũng được.

Trong các giờ chỉ tịnh, trừ khi mình có những công việc bất khả kháng, không nghỉ được thì mình phải làm trong se sẽ, êm thấm không để động niệm những người xung quanh. Tuyệt đối không ở ngoài sân, lo nói chuyện rồi vào nghỉ trễ đến khi kiểng thức thì không thức nỗi. Điều này là một tệ hại, lo làm chuyện không đâu tới giờ nghỉ thì không chịu nghỉ, giờ thức thì lại không muốn thức. Phải tránh tình trạng này. Giả sử muốn dành khoảng thời gian nghỉ trưa cho việc học thì cũng phải tập dần thành một thói quen. Giờ giấc quy định đã có tiêu chuẩn hết rồi, vừa phù hợp với sức khỏe của mọi lứa tuổi, không có thừa cũng không có thiếu, nếu mà ngủ nhiều quá tạo cho mình sự nặng nề, ít quá thì ảnh hướng đến sức khỏe. Nếu thức thì phải xem lực của mình thức được bao nhiêu và có bảo đảm thời khóa hay không, nếu không thì phải ngủ nghỉ đúng giờ, đúng giấc. Tránh tình trạng ngủ nghỉ phi thời, lứa tuổi các huynh đệ còn trẻ, còn khỏe mạnh mình phải cố gắng, dầu thư giãn đi nữa cũng không được nằm. Mình đừng để thời gian luống qua vô ít, phải nghĩ đến sau này lớn tuổi muốn ngồi cũng không ngồi được, mình phải biết trân quý hiện tại, đừng nên lạm dụng quá rồi giờ nào cũng nằm được hết là không được. Cần phải giờ nào việc đó và đưa ra một thời khóa biểu, tất cả đều y như thời khóa mà thực hiện thì mới nhanh chóng tiến tu được.

2.                        Công tác hành đường.

Các huynh đệ khi trong phiên hành đường, công việc của mình sẽ là phụ bếp, dọn Quả đường. Đều quan trọng trong công việc này huynh đệ phải nhớ kỹ là mình phải chú ý mới được, khi sắp một cái chén, cái muỗng, đôi đũa... lên bàn phải thật nhẹ nhàng, không để gây ra tiếng động. Gây tiếng động là do mình không chú tâm trong công việc hoặc cố tình để cho mọi ngưới chú ý thấy mình làm. Khi mình làm những việc liên quan đến đồ ăn, thức uống thì phải để tâm suy nghĩ đến giới quỷ thần xung quanh, quả báo của họ mang là đói khát nên khi họ nghe tiếng đũa muỗng khua động thì họ sẽ ngóng cổ lên để chờ được ăn, nhưng sẽ ăn không được nếu như không có sự chú nguyện của chư tăng. Vì lòng từ bi huynh đệ phải có tâm nghĩ đến họ bởi khi thấy thức ăn mà không ăn được thì họ đau khổ dữ lắm. Tôi nhớ hồi xưa, có một bài học trong Tự Lực Văn Đoàn gọi là bài Đói, có một anh chàng sinh viên ở trên cái gác trọ sống trong tình cảnh không còn tiền, khi đó nằm ở trên gác bụng thì đói mà ở dưới người ta chiên tàu hủ nghe mà chịu không nỗi, diễn tả một cảnh đói khổ rất là dữ dội. Vì thế khi mình hành đường, phải để tâm ý làm cho nhẹ nhàng, êm thấm. Thứ nhất sẽ tạo cho mình đức tính cẩn thận, thứ hai là thương tưởng đến sự khổ sở của chúng sanh.

3.                        Công tác lao động.

Công tác hằng ngày đã được phân chia rõ ràng và đồng bộ thực hiện sau khi dùng Tiểu thực. Chính mình phải tranh thủ, cùng làm với đại chúng thì sẽ tạo thành một thói quen nề nếp tập thể, chính mình sẽ gây ảnh hưởng lớn đến huynh đệ khác, khi huynh đệ khác thấy mình làm họ sẽ nhớ đến công việc, bổn phận của họ mà cũng đi làm. Người này làm, thấy người kia cũng làm thì huynh đệ sẽ rất phấn khởi trong công việc. Chúng ta phải thực hiện nghiêm túc, làm hết sức mình, làm cho thật kỹ lưỡng, không nên qua loa cho rồi chuyện. Có như vậy thì bất cứ công việc nào mình cũng có tâm chú ý trong đó. Tôi nhớ hồi nhỏ khi còn ở dưới quê, bà ngoại lâu lâu giao việc cho làm, tôi cố gắng làm, làm rất vừa ý cho nên sau này bà ngoại kêu làm gì là làm không cần phải theo dõi, chỉ dẫn nữa. Bởi kỹ lưỡng, tỉ mỉ như vậy tạo nên sự chu toàn nên bất cứ việc gì mặc dầu là mình chưa có làm nhưng khi được giao thì mình sẽ có sự nhạy bén, kiến tạo và sẽ hoàn thành tốt đẹp. Nếu làm lấy lệ, tiêu cực thì chẳng làm việc gì xong, chẳng có kinh nghiệm thì khi đụng chuyện sẽ không làm được gì tốt cả. Huynh đệ cần phải hết sức kỹ lưỡng, chú ý. Trong lao tác, thỉnh thoảng có những công việc đặc biệt cần sự tham gia của toàn thể đại chúng như xây dựng, đổ bê tông, vận chuyển gạch lên xe… mỗi người một tay thì công việc sẽ nhanh chóng đảm bảo. Còn như mình tìm cách trốn, lảnh tránh hoặc lấy lý do này kia để không tham gia thì không được, điều đó thể hiện sự không tích cực và không có trách nhiệm.

4.                        Vệ sinh tắm giặt.

Sau thời khóa công phu chiều có khoảng thời gian dành cho việc vệ sinh, tắm giặt. Đúng ra trong luật không cho chúng ta tắm rửa nhiều, nhưng mà vì ở xứ mình là xứ nóng, nếu mỗi ngày không tắm người sẽ rất rích và gây sự khó chịu. Vì thế mình phải vệ sinh thân thể đều đặn, tắm rửa thân thể sạch sẽ, thoải mái thì khi lên tụng Kinh cũng sẽ rất an lạc. Mình phải chịu khó tắm rửa, giặt dũ đàng hoàng. Quần áo tắm xong, mỗi ngày mỗi giặt thì chúng ta sẽ thấy đỡ ngán hơn khi dồn lại 2,3 bộ giặt 1 lần.

Trên là những công việc hằng ngày trong đời sống sinh hoạt. Trong mỗi công việc chúng ta đều phải nhớ áp dụng Tỳ Ni kèm theo. Để giữ chánh niệm và làm bất cứ việc gì cũng nhớ đến hồi hướng cho chúng sanh. Khi làm được vậy sẽ rèn luyện tính cẩn thận, trao dồi tâm hạnh đem lại lợi ích cho mình và người.

B.             TRONG TU HỌC

Khi nghe lắc linh báo thời khóa công phu lập tức mặc áo tràng tề chỉnh. Thời gian được bố trí rất thoáng, đủ để cho mình thong thả không gì phải vội vàng. Chỉ có ngủ nghỉ phi thời, lề mề mới xảy ra việc trễ nải. Ít nhất linh 2 là mình phải có mặt, chứ đợi đến linh 3 là đại chúng đã bắt đầu lên Kinh rồi. Mình đã biết giờ giấc thì phải có sự chuẩn bị kịp thời. Huynh đệ có thói quen như vậy thì sẽ thư thái lắm.

Khi lên công phu phải tụng niệm lớn tiếng, rõ ràng, hùng hồn. Lớn tiếng ở đây không phải là la gào lên mà là sự tỉnh táo, đồng bộ với đại chúng. Một khi có sự đồng bộ sẽ tạo nên một thể lực mạnh mẽ. 10 người là có thể làm được huống chi là một đạo tràng bốn năm chục người sẽ tạo một âm thanh hùng mạnh lắm. Bản thân mỗi người phải có sự nhận thức, lên tụng niệm mà lim dim không tụng thì gây ảnh hưởng không tốt đến đại chúng. Tôi nhớ có 1 đoàn Tu sĩ người Nhật khoảng ba bốn người, họ tổ chức đi từ nước này sang nước kia bằng máy bay nhưng khi dừng chân ở một đất nước thì họ đi bộ từ chùa này sang chùa kia. Khi đến một ngôi Chùa, họ đứng trước cửa, có một người gõ trống, còn lại đồng nhau tụng Kinh. Chỉ ba bốn người thôi nhưng họ hòa quyện tạo ra âm thanh rất hùng tráng. Và ta thấy cõi Ta Bà mình đây người ta thường dùng âm thanh để biểu thị tâm tư nguyện vọng, nỗi niềm của mình. Âm thanh rất là quan trọng, vì thế ở chùa huynh đệ nên luyện chất giọng cho đồng nhất thì khi công phu sẽ rất hay. Khi lên thời khóa tụng niệm, đặc biệt là công phu khuya mình rất dễ hôn trầm, phương pháp đối trị là tụng niệm lớn tiếng hòa cùng Đại chúng, giúp mình phấn chấn tinh thần và đạt được sự lợi ích tối thắng trong tu tập. Mỗi ngày mỗi tụng, tụng đi tụng lại như vậy, rõ ràng như vậy thì những phần kinh mình thuộc sẽ khó mà quên được, những phần kinh chưa thuộc thì cũng nhờ đó mà dễ dàng thuộc.

Tôi nhớ thời đi học, lúc còn cư sĩ nhờ thuộc chú Lăng Nghiêm mà dẫn đến cái duyên tôi đi xuất gia. Lúc đó có phái đoàn (khoảng 3, 4 Thầy), gọi là Như Lai Sứ Giả được Giáo hội Trung ương cử về. Lúc đó tôi ở trọ ngay chùa quý Thầy về công tác. Thời khóa công phu khuya ở chùa hầu như ngày nào tôi và thầy Tâm cũng có mặt. Dù là ở trọ nhưng chúng tôi vẫn tham gia đủ, còn quý Thầy thường trú trong chùa thì gián đoạn hôm có hôm không. Quý Thầy đi công tác thấy cư sĩ mà thuộc lòng, tụng chú Lăng Nghiêm rất lưu loát, quý Thầy mới bảo “Còn cư sĩ mà thuộc Lăng Nghiêm đi tu luôn cho rồi”. Chỉ một lời khuyến khích như vậy thôi, khi về gặp Ni sư chùa Bảo Thắng mới khoe với Ni sư, nắm cớ đó cứ mỗi lần gặp mặt là Ni sư thôi thúc tôi đi xuất gia. Bấy giờ trong tâm vẫn chưa có ý muốn xuất gia nhưng nhờ có Ni Sư làm tăng thượng duyên, cho nên mới quyết định lên xin Sư Ông xuất gia cho được. Khi tập sự xuất gia, điều kiện quan trọng là phải thuộc chú Lăng Nghiêm, đôi khi tạo điều kiện cho những vị chưa thuộc nhưng thấy có thiện chí thì cũng cho thế phát xuất gia, nhưng thế phát xong thì lại bỏ lơ luôn đến giờ vẫn còn chưa thuộc, những trường hợp như vậy là quá tệ. Hồi đó trước khi xuất gia, hai thời công phu chú Lăng Nghiêm và Kinh A Mi Đà là tôi đã thuộc hết, thời gian sau chỉ lo tập trung học luật Tỳ Ni, Oai nghi. Quý huynh đệ mình chưa thuộc thì phải cố gắng học, học rồi tụng. Quý huynh đệ phải để tâm cố gắng.

Đối với việc học Kinh huynh đệ phải hết sức tập trung và có phương pháp khi học. Không nên họp lại với nhau ngồi tán gẫu, như thế sẽ khó mà tiến bộ. Nhớ lúc trước khi mới vào chùa tôi học chữ Hán. Mặc đầu có bổn sẵn nhưng khi học mình chịu khó viết lại thì sẽ nhớ rất lâu và dễ dàng nắm nghĩa. Việc học mình phải siêng năng chịu khó. Hồi đó lớp Sư Ông dạy có hai hình thức là chính thức và dự thính (dự thính là chỉ ngồi nghe chứ không tham gia bài vở).  Vào sau hết thảy nhưng được quý Thầy khuyến khích, một thời gian không lâu tôi được vô lớp chính thức. Khi học chính thức  tôi được giao viết giấy can film rồi quay roneo phát bài ra cho lớp, lúc đó chưa có máy photo như hiện nay, mà lớp học thì rất đông, trong đó có chúng trong chùa, rồi quý thầy, quý sư cô trong đạo tràng và nơi khác đến học. Có những bài chữ Nho, Sư Ông không có in sẵn, tôi được chọn với thầy Định Huệ viết ra giấy sáp rồi quay roneo. Vô học sau, lại mới biết viết chữ Nho nhưng từ sự chịu khó mà một thời gian sau tôi viết chữ quen và nhanh hơn trước, viết chuẩn và tương đối đẹp dễ nhìn. Nhân là chịu khó mới gặt được cái quả thành công. Có lần dạy xong một bộ Luận, Sư Ông cho quý Thầy học chính thức viết một sơ đồ thể hiện bố cục lớn nhỏ các phần của bài Luận. Sách Nho viết liên tục không có phân đoạn nên sau khi học xong phải nắm được phần nghĩa thì mới biết đoạn nào đoạn chánh để phân ra. Khi Sư Ông ra đề như vậy, quý thầy phải coi hết một lượt từ đầu đến cuối, coi để biết đoạn nào thuộc đề mục nào, mỗi đề mục có bao nhiêu phần nhỏ. Chẳng hạn như phần I có mấy phần A, B, C, phần A chia ra mấy phần nhỏ, cứ như vậy phân ra. Khi đó chỉ có mình tôi làm trình lên Sư Ông xem qua và đúng với bố cục của bài Luận đó. Cho nên huynh đệ học phải làm sao cho có hiệu quả mới được. Phải biết được ý nghĩa việc học, học cho đến nơi đến chốn.

Quay lại vấn đề thời khóa, nói về công phu chiều. Thời khóa công phu chiều cúng thí thực hằng ngày đem lại rất nhiều lợi ích cho giới quỷ thần chịu báo đói khổ. Hồi Đức Phật còn tại thế, loài rồng bị chim xí điểu bắt ăn thịt, rồng mới lên thưa với Phật “ Mỗi ngày bị chim bắt ăn như vậy, con cháu loài rồng bị ăn gần hết.” Nên Phật mới dạy rồng đắp y của Phật lên ngực, khi chim xí điểu thấy sẽ không dám ăn. Bởi thế chim đói quá lên thưa với Phật: “Phật làm vậy, con không còn gì để ăn.” Bắt đầu từ đó, Phật dạy chư tăng mỗi ngày phải cúng xuất sanh để cho chim xí điểu thọ thực. Vì thế mà sáng và trưa chùa có cúng xuất sanh để cho loài súc sanh được no đủ, buổi chiều cúng thí thực cho giới quỷ thần hưởng thực. Sư Ông từng dạy trong sáu đường thì chúng sanh trong đường ngạ quỷ chịu quả báo đói là chánh, rất là khổ. Ở đây nói đến ngạ quỷ thường thường chúng ta đọc chạy chữ thành ngã quỷ là sai, ngạ tiếng hán dịch ra là đói. Mặc dù trong giới quỷ thần có những vị trấn giữ đình, miếu, thường được người đời cúng đồ ăn thức uống rất nhiều, nhưng do quả báo đói nên không được hưởng, hễ nhìn thấy thức ăn đều biến thành máu và mủ. Chỉ khi chư tăng tụng kinh, chú nguyện thì họ mới thọ lãnh được. Do đó, dù bận rộn chúng ta cũng phải cố gắng công phu đều đặn, vừa giúp mình học thuộc kinh vừa đem lại lợi ích cho chúng sanh đói khổ.  Đây là bổn phận của người tu chúng ta. Trong mọi thời khóa huynh đệ phải lên đầy đủ, thời khóa ví như thân thể chúng ta mỗi ngày cần phải ăn cơm vậy, thì sự tu tập của mình mới không gián đoạn. Mỗi ngày không lên tụng kinh coi như ngày hôm đó ta không có ăn cơm. Hiểu được điều này thì không có bất cứ lý do gì để mình bỏ thời khóa. Trừ khi bệnh tật khá nặng, bất đắc dĩ mới phải gián đoạn. Còn như bệnh nhẹ cũng phải gắng lên, không nên vì chút xíu đó mà nghỉ thời khóa, hôm nay nghỉ được rồi thì bữa sau cũng sẽ muốn nghỉ. Thời khóa là bữa cơm mình không thể thiếu được. Huynh đệ nên có sự nhận thức như vậy.

Như huynh đệ có để ý quan tâm thì sẽ thấy trong sinh hoạt hằng ngày chúng ta có  rất nhiều thời gian trống, với những ai biết sử dụng thời gian hợp lý thì mang lại rất nhiều lợi ích. Y theo thời khóa biểu đã định thì sự tu của mình sẽ rất đều độ. Lúc trước sau thời Tịnh Độ buổi tối xuống, nghỉ một chút đến 9 giờ thì sẽ có thời tĩnh tọa. Sau này quý Thầy thấy hơi cập rập nên đã thống nhất 2 thời khóa Tịnh Độ và tĩnh tọa lại thành một thời với mục đích để huynh đệ có thêm nhiều thời gian cho việc học. Quý huynh đệ cần phải lưu ý, những ngày ôn thi thì có thể xin phép quý Thầy học thi. Khi xin học thi thì phải tập trung học chứ không phải dành thời gian để ngủ. Điều này cần phải rõ ràng, không được lợi dụng việc thi cử, đến giờ đại chúng công phu thì mình ở dưới phòng ngủ. Huynh đệ phải biết và sử dụng thời gian trong một ngày sao cho khoa học.

Với nếp sống thanh lương, trí tuệ như vậy thì sự tu tập của mình sẽ không ngừng tiến bộ. Toàn thể đại chúng cùng nhau cố gắng tạo nên một nếp sống kỷ luật ý nghĩa. Ở đây chúng ta quan trọng ở sự nhận thức, không có đặt nặng hình phạt. Tự mỗi người phải thấu hiểu, bởi sự tu hành là đem lại lợi ích cho chính mình và cũng ảnh hướng đến hoàn cảnh, mọi người xung quanh. Thấy như vậy huynh đệ phải sách tấn cho nhau. Như ở nơi tập thể, nội trú trong các tu viện vấn đề kiểm soát công việc sinh hoạt hằng ngày rất kỹ, từ việc sáng thức dậy xếp cái mùng, xếp cái mền, để cái gối, trải cái khăn lệch một chút là bị phạt rồi, từ những cái nhỏ nhặt như vậy mình mới chú tâm để ý. Tất cả các công việc huynh đệ phải chú tâm, tập cho mình thói quen tốt để đời sống sinh hoạt tu tập đạt được sự tỉnh thức.

Ngày 14/03/Ất Mùi (2015).

_______________________

“Sư Phụ kính thương! Chúng con xin được phép gọi như thế bằng tất cả lòng thành kính và tôn quý nhất. Sư Phụ  là cha lành đã khai sinh ra chúng con trong ngôi nhà Phật pháp, là người mẹ hiền đã yêu thương chúng con với một tình thương bao la không phân biệt; tình yêu thương cao thượng ấy được Sư Phụ thể hiện qua sự thấu hiểu, bởi sự thấu hiểu mà Người luôn cảm thông, bao dung, tha thứ cho tất cả những lỗi lầm của chúng con, mà kịp thời soi sáng, nâng đỡ, trao truyền cho chúng con niềm tin, nghị lực để chúng con vững chãi trên bước đường phía trước còn nhiều chông gai và thử thách…Xin cảm ơn cuộc đời đã cho chúng con gặp được Sư Phụ.”

 

 


^