Tìm hiểu năm điều Phật ngăn cấm

Ngày đăng: 12.03.2017 07:56

Thứ lớp của Phật giới tuy nhiều nhưng đều lấy ngũ giới làm nền tảng. Ngũ giới tuy là từng lớp thấp nhất của Phật giới, song như cất lầu trước chẳng xây móng thì ý muốn cất lầu rốt cuộc chỉ là mộng tưởng. Vì thế có người nói :”Pháp ngũ giới là cha của ba đời chư Phật, y ngũ giới mà sinh ra thập phương tam thế tất cả chư Phật”.

NGŨ GIỚI LÀ GÌ?

Một đoàn thể có tổ chức, có lý tưởng, có thành viên, phải có quy ước hoặc hiến chương của tổ chức ấy. Một tổ chức kiện toàn hay không chỉ cần xem các nội dung của quy ước hoặc hiến chương của nó có kiện toàn hay không. Một tổ chức có thành tích biểu hiện trác việt hay không, cũng do lý tưởng ở trong quy ước hoặc hiến chương định đoạt. Tất cả xã hội đều y theo lý tưởng riêng chế định quy ước hoặc hiến chương, nhưng muốn biết quy ước hoặc hiến chương có sinh ra được hiệu lực hay không còn phải xem nhân viên trong tổ chức đối với quy ước hoặc hiến chương kia có bảo vệ hoặc tuân hành hay không.

Trên thế gian, dù công ước nào hiến chương nào cũng chẳng tồn tại mãi, cũng chẳng vĩnh cửu bất biến. Chỉ có giới luật của tín đồ tôn giáo là ngoại lệ. Tính chất của giới luật, tuy cũng tương tự như hiến chương công ước hoặc phép tắc phải giữ của tất cả các tổ chức xã hội, nhưng một tôn giáo có thể chẳng suy và càng truyền càng rộng cũng phải xem nội dung giới luật của tôn giáo ấy mà định. Từ khi có lịch sử đến nay, nhân loại trên thế giới đã trải qua không biết bao nhiêu tôn giáo. Nhưng, tôn giáo được nhân loại công nhận chỉ một số ít có thể đếm được. Bởi vì công dụng của giới luật chẳng những phòng ngừa sự hư hỏng của tín đồ, mà lại còn tăng tấn hạnh phúc của nhân loại đại chúng cho đến tất cả chúng sinh. Bằng không, tự nhiên cũng bị đào thải.

Tuy nhiên trừ Phật giáo ra, không có một tôn giáo nào khác có thể thích dụng với ý nghĩa của giới luật như nội dung của Phật giáo, song chúng ta lại không thể phủ nhận bộ phận giới luật của tôn giáo khác cũng có tác dụng.

Hai chữ Giới Luật là chữ Trung Quốc, ý nghĩa của hai chữ Giới Luật cũng khác nhau. Giới là điều chẳng nên làm. Luật là điều nên làm. Giới là chẳng nên. Luật là phải nên. Như vậy, Giới là sự gìn giữ của mỗi người, Luật là hoạt động của đoàn thể. Vì thế trong Phạn văn, Giới gọi là Thi la (Si la), Luật gọi là Tỳ nại da (Vinaya). Nhưng có lúc cũng đem hai nghĩa giới luật dùng chung, cho nên cũng không cần cắt đôi hai chữ giới luật ra định nghĩa.

Truớc tiên ta cần giảng chữ giới. Chữ giới nghĩa là điều không nên làm thì đừng làm, cho nên cũng là một thứ hạn chế thuộc tiêu chuẩn đạo đức. Như thông thường nói giới cờ bạc, giới hút sách, giới uống rượu v.v… là một thứ hành vi câu thúc.

Chúng ta đã biết giới không phải là điều Phật giáo riêng có, các tôn giáo khác cũng có giới quy hoặc giới mệnh. Nhưng giới của Phật giáo cùng giới của tôn giáo khác chẳng hoàn toàn đồng nhau.

Chúng ta cần phải hiểu rõ một nguyên tắc là bất cứ tôn giáo cao cấp nào hữu ích cho nhân loại, tôn giáo ấy đều chẳng thể trái với tiêu chuẩn đạo đức của nhân lọai. Do đó, giới luật đươc chế ra cũng không sai biệt nhiều. Tuy nhiên, giới luật của Phật giáo có nhiều cấp bực từ thấp đến cao, dù là cấp bực thấp nhất cũng vượt lên trên tất cả tôn giáo. Trong đó, ngũ giới là nền tảng của tất cả giới luật, nhưng giới mục của ngũ giới không có xa lạ gì với sinh họat bình thường của con người. Thời cổ đại ở Ấn Độ, các tôn giáo đều có ngũ giới nên đại thể đều tương đồng, như 5 giới sau trong 10 giới của Cơ Đốc giáo cũng vậy. Nay phân biệt nêu ra như sau:

1. Ngũ giới của Phật giáo: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu

2. Ngũ giới của Ma na Pháp điển: Không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cắp, không phi phạm hạnh (không dâm), không tham sân.

3. Ngũ giới của Bao đạt dạ na Pháp điển: Không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cướp, nhẫn nại, không tham.

4. Ngũ giới của Tiền Đa Khư Da, Áo Nghĩa Thư: Khổ hạnh, từ thiện, chánh hạnh, không sát sinh, thật ngữ.

5. Ngũ giới của Kỳ na giáo: không sát sinh, không trộm cướp, không vọng ngữ, không dâm, ly dục.

6. Ngũ giới của Du già phái: không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cướp, không tà dâm, không tham.

7. Năm giới sau của Cơ Đốc giáo: Đừng giết, đừng trộm, đừng dâm, đừng vọng chứng, đừng tham của cải người khác.

Do sự so sánh ở trên có thể biết điểm đặc sắc của ngũ giới Phật giáo là không uống rượu, các tôn giáo khác không có giới rượu, vì Phật giáo trọng trí huệ, uống rượu khiến cho người ta say sưa hôn mê vì thế không cho uống rượu. Tham dục, tham sân của các tôn giáo khác nêu ra, không phải hành vi mà là hiện tượng tâm lý, trong ngũ giới của Phật giáo thật đã bao gồm hết.

Từ xưa đến nay ở Trung Quốc có nhiều người chủ trương thuyết Nho Thích Đạo tam giáo đồng nguyên, sớm nhất là thấy trong Lý Hoặc Luận của Mâu Tử đời Hậu Hán đem ngũ giới của Phật giáo phối hợp với ngũ thường. Sự phối hợp này có những ý kiến bất đồng như:

1. Thiên thai Nhân Vương Kinh Sớ phối hợp không sát sinh với nhân, không trộm cắp với trí, không tà dâm với nghĩa, không uống rượu với lễ, không vọng ngữ với tín.

2. Chỉ Quán quyển 6 phối hợp không sát sinh với nhân, không trộm cướp với nghĩa, không uống rượu với lễ, không vọng ngữ với trí, không tà dâm với tín.

3. Cách phối hợp thông thường là không sát sinh phối hợp với nhân, không trộm cướp phối hợp với nghĩa, không tà dâm phối hợp với lễ, không vọng ngữ phối hợp với tín, không uống rượu phối hợp với trí.

Nhưng ở đây, phương pháp phối hợp ngũ giới của Phật giáo với ngũ thường của Nho giáo chỉ có thể nói về tiêu chuẩn đạo đức của nhân gian có một xu thế tiếp xúc tương đối gần gũi, chứ chẳng nên nói là tuyệt đối thích đáng. Chẳng nói giới nào khác, chỉ nói một giới không uống rượu thôi, tuy gồm có tinh thần lễ và trí, song lễ và trí của Nho giáo chẳng đồng với giới không uống rượu của Phật giáo, bởi trên thực tế Nho giáo không cấm uống rượu.

Nói đến chỗ này, chúng ta có thể phân biệt sự ưu liệt cao thấp của giới. Qua cái nhìn của Phật giáo, giới có thế giới (giới của thế gian chế) và đệ nhất nghĩa giới (giới của Phật chế) chẳng đồng. Trừ giới của Phật chế ra, tất cả đều là giới của thế gian chế. Sự bất đồng của Phật giới và giới của thế gian là tại điểm xuất phát và mục đích khác nhau. Các tôn giáo khác giữ giới là tuân theo ý chí của Thượng đế hoặc thánh thần, như tín đồ Cơ Đốc giáo vâng theo 10 giới, bởi vì đó là mệnh lệnh của Thượng đế tuyên bố, nên chẳng tuân giữ là chống lại Thượng đế, làm cho Thượng đế nổi giận. Phật giáo không phải như vậy Phật giới tuy do Phật chế, song tuân giữ là ở tại mỗi người, Đức Phật chế giới cũng là căn cứ vào ý chí của chúng sinh chứ chẳng ép buộc người nào, giữ giới chẳng phải vì Phật mà là ý chí tự do mỗi người muốn giữ. Như ăn cơm là việc chính của mỗi người, ăn xong tự mình no, không ăn tự mình đói, không quan hệ chút nào với người khác. Nhưng Đức Phật với tấm lòng đại trí đại bi, dù chẳng thay thế chúng sinh ăn cơm được, Ngài cũng khuyên nhủ và hướng dẫn chúng sinh ngu si đói khát đi ăn cơm (dụ cho giữ giới). Đây là điểm bất đồng thứ nhất giữa Phật giới và giới của thế gian.

Thông thường, giới của thế gian, hơn phân nửa là thiên về một mặt. Như tín đồ Cơ Đốc giáo giữ giới ( giới là giới của nghi thức giáo huấn ) là vì cầu được sự sủng ái của Thượng đế và hy vọng sau khi bỏ thân này, được vào Thiên Quốc của Thượng đế. Mục đích giữ giới của họ chẳng vì tạo thành hạnh phúc an lạc của nhân gian mà vì đạt ý muốn sinh lên trời, vì thế thiên về hành vi bi thương hoặc nói là xuất thế (theo Phật pháp nói giả sử họ được sinh lên trời cũng thật chưa là xuất thế). Do đó, họ luôn luôn vì lý do Thiên Quốc mà phủ định sự hòa bình an lạc của nhân gian, cho nên chiến tranh tôn giáo cũng do đây mà ra. Còn như Nho giáo (thật ra Nho gia chẳng phải là Nho giáo, vì Nho giáo vốn chẳng thành tôn giáo) đối với sự tuân giữ cương thường luân lý là tạo thành hạnh phúc và hòa bình an lạc của nhân gian, song lại chẳng hướng về hình nhi thượng hoặc xuất thế, vì thế nó thiên về hiện thực. Chỉ có sự tuân giữ Phật giới của tín đồ Phật giáo vừa là tạo phước nhân gian cũng là tìm cầu cảnh giới xuất thế, vì thế trên Phật giáo sử chỉ có ghi chép nhẫn nhục và hy sinh chứ không có việc chiến tranh và đẫm máu, đây là điểm bất đồng thứ hai của Phật giới và giới thế gian.

Thường thường giới thế gian chỉ có sự tuân giữ về hình thức nhưng không có nhận được giới thể, thế nên không có phân biệt được giới tội và tánh tội. Như 10 giới của Cơ Đốc giáo chẳng phải chỉ tín đồ Cơ Đốc giáo có, Cơ Đốc giáo cho rằng Thượng đế chế ước cho nhân loại, bất luận tin hay không tin đều ở trong phạm vi của chế ước này, người tin cố nhiên phải giữ, người chưa tin cũng chẳng thể chăng giữ; nếu chẳng giữ, tội lỗi cũng đồng với người đã tin. Phật giới không như vậy. Phật giới là do Phật chế, sự thọ giới của đệ tử Phật phải là sự truyền thọ. Xét về sự truyền thừa và nạp thọ giới thể, chỉ có người đã thọ giới rồi mới đem giới truyền cho người khác được. Giới thể này là trực tiếp truyền từ Đức Phật, thọ giới mà nhận được giới thể là nạp thọ Pháp thân Phật vào trong tâm tánh của chính mình, vì Pháp thân Phật tiếp thông với Pháp thân sẵn có của mọi người, vì dẫn đạo sự phát minh hoặc chứng ngộ tự tánh là Phật của mỗi người. Thọ Phật giới rồi mà lại phá giới là đồng với phá Pháp thân Phật, vì thế tội lỗi rất lớn. Người không có thọ giới tuy làm ác nhưng chẳng phải phá giới, bản thân làm ác tuy là tội lỗi mức độ tội lỗi lại không to, không nặng bằng người thọ giới phá giới. Đây là biết pháp, phạm pháp thì tội hơn một bực, tánh tội của làm ác (vốn là tội) lại thêm giới tội của phá giới. Trong Phật pháp, phá giới là phá Pháp thân Phật (Tam thế chư Phật và tự tánh là Phật), vì thế mức độ của giới tội lớn hơn tánh tội rất nhiều. Đây là điểm bất đồng thứ ba của Phật giới và giới thế gian.

Thường thường, giới thế gian chỉ dạy người trừ bỏ hành vi phải ngăn cấm mà chẳng hình thành được một hệ thống luận lý. Phật giới được xếp vào một Tạng trong Tam tạng của Phật giáo, cùng với Kinh tạng, Luận tạng đứng vững như cái đảnh ba chân và lấy Luật tạng chuyên môn nói về giới làm then chốt cho Phật pháp trụ thế. Vì thế, có một hệ thống hoàn bị. Tỷ như đem sự cấu thành của giới phân làm 4 khoa mục lớn là giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng, nếu thiếu một thì chẳng được gọi là trì giới. Giới pháp là pháp quy của Phật chế. Giới thể là một mạch truyền thừa vô biểu sắc pháp của các sư truyền thọ cho nhau, đó là công đức sở huân. Giới hạnh là do hành vi trì giới biểu hiện ra. Giới tướng là hiện tượng sai biệt của hành vi trì giới biểu hiện ra. Nếu như chẳng đầy đủ được 4 điều kiện ( thường gọi là 4 khoa), thì tuy không sát sinh, không trộm cướp , cho đến không uống rượu, cũng chỉ được xem là giữ giới thế gian mà chẳng phải là Phật giới, công đức giữ gìn giới thế gian là hữu hạn. Đây là điều bất đồng thứ tư của Phật giới và giới thế gian.

Ở đây xin hỏi: Tin Phật, tại sao cần thọ giới?

Trong thiên quy y Tam Bảo đã nói về tính chất trọng yếu của tam quy. Người tin Phật có quy y Tam bảo giống như sự ghi tên đăng ký của học sinh nhập học, nhưng ghi tên đăng ký chẳng bằng đi học. Sau khi quy y Tam bảo, nhận được Phật giới mới là bước đầu của con đường thành Phật. Quy y Tam bảo chỉ là công đức chuẩn bị của sự học Phật, thành Phật mà thôi. Lại vì trong quá trình học Phật là xa xôi diệu vợi, trình độ phát tâm học Phật có cao thấp, vì thế chúng ta tin Phật và thọ Phật giới cũng có nhiều thứ lớp. Thứ lớp của Phật giới tuy nhiều nhưng đều lấy ngũ giới làm nền tảng. Ngũ giới tuy là từng lớp thấp nhất của Phật giới, song như cất lầu trước chẳng xây móng thì ý muốn cất lầu rốt cuộc chỉ là mộng tưởng. Vì thế có người nói :”Pháp ngũ giới là cha của ba đời chư Phật, y ngũ giới mà sinh ra thập phương tam thế tất cả chư Phật”.

trích CƯƠNG YẾU GIỚI LUẬT - Hòa thượng Thánh Nghiêm (Thích nữ Tuệ Đăng dịch)

  •  *

  •  *

  •  *

  • Nội Dung

     *

  • LÀM LẠI
  • ^