Trang chủ >> QUYỂN 20

KINH TAM BẢO - THỬ NGHIỆM

KINH A DI ĐÀ(1) Hán dịch: Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập(2) 1. KỲ VIÊN ĐẠI HỘI(3) Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc nước Xá Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội đều là bực đại A la hán mọi người đều quen biết, như là: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, Ma ha Ca Chiên Diên, Ma ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nâu Lâu Đà… Những vị đại đệ tử như thế và hàng đại Bồ tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ tát, Càn Đà Ha Đề Bồ tát, Thường Tinh Tấn Bồ tát... cùng với các vị đại Bồ tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhơn v.v... Đại chúng cùng đến dự hội(4). 2. Y BÁO CHÁNH BÁO(5) Bấy giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất rằng: Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đang nói pháp. 3. Y BÁO TRANG NGHIÊM Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc(6). Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc(7). Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng, bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thì ánh sáng xanh, sắc vàng thì ánh sáng vàng, sắc đỏ thì ánh sáng đỏ, sắc trắng thì ánh sáng trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch(8). Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời Mạn đà la. Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành(9). Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi đó thường có những giống chim màu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh võ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng… những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã. Tiếng chim đó diễn nói những pháp như: ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ đề phần, bát Thánh đạo phần v.v... Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng! Xá Lợi Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thật là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ. Xá Lợi Phất! Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi(10). Xá Lợi Phất! Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động các mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. 4. CHÁNH BÁO VÔ LƯỢNG THÙ THẮNG Xá Lợi Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà. Xá Lợi Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà (11). Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn lại đến nay, đã được mười kiếp. Xá Lợi Phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh văn đệ tử đều là bậc A la hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ tát chúng cũng đông như thế. Xá Lợi Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực Bất thối chuyển. Trong đó có rất nhiều vị bực Nhứt sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a tăng kỳ để nói thôi! Xá Lợi Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó. Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ(12). 5. NHƠN HẠNH VÃNG SANH Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi đó. Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tạp loạn. Thì người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà (13). Xá Lợi Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế. Nếu có chúng sanh nào, nghe những lời trên đây, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc. 6. SÁU PHƯƠNG PHẬT ĐỒNG KHUYÊN TIN Xá Lợi Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà. Phương Đông cũng có đức A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật... hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm nầy. Xá Lợi Phất! Thế giới phương Nam, có đức Nhựt Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật... hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm nầy. Xá Lợi Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bửu Tướng Phật, Tịnh Quang Phật... hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm nầy. Xá Lợi Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhựt Sanh Phật, Võng Minh Phật... hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm nầy. Xá Lợi Phất! Thế giới phương Dưới, có đức Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật... hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm nầy. Xá Lợi Phất! Thế giới phương Trên, có đức Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bửu Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bửu Hoa Đức Phật, Kiến Nhứt Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật.. hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm nầy(14). Xá Lợi Phất! Nơi ý của ông nghĩ thế nào, vì sao tên là Kinh Nhứt Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào nghe kinh nầy mà thọ trì đó và nghe danh hiệu của các đức Phật, thì những thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Xá Lợi Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói. Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của đức Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về. Xá Lợi Phất! Cho nên các thiện nam tử, thiện nữ nhơn nếu người nào có lòng tin thì phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia. 7. THUYẾT KINH RẤT KHÓ Xá Lợi Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hy hữu, có thể ở trong cõi ta bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà Ngài chứng được ngôi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin nầy. Xá Lợi Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thực hành việc khó nầy: được thành bực Vô thượng Chánh giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin nầy, đó là rất khó (15)! Đức Phật nói kinh nầy rồi, ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: trời, người, A tu la v.v... nghe lời của đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ Phật mà lui ra. *  THÍCH NGHĨA KINH A DI ĐÀ [1] Trong kinh nầy, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuật nói chánh báo và y báo thù thắng trang nghiêm của đức A Di Đà Phật. [2] Triều Tấn (Tàu), Dao Hưng chiếm một phần đất xưng vương, quốc hiệu là Tần nên gọi là Dao Tần. Bậc thông hiểu tam tạng: kinh, luật và luận, có thể giảng nói để dạy mọi người nên gọi là Tam tạng Pháp sư. Ngài Cưu Ma La Thập người xứ Thiên Trúc, qua Tàu làm một nhà dịch kinh chữ Phạn ra chữ Tàu có danh tiếng nhất. [3] Ông Cấp Cô Độc Trưởng giả mua khu vườn của ông Kỳ Đà Thái tử, con vua Ba Tư Nặc, nước Xá Vệ. Thái tử cúng luôn rừng cây trong đó, rồi hai người chung sức nhau dựng Tinh xá để thỉnh Phật cùng chúng hội về ở. Do đó nên hiệp cả hai tên của hai người để đặt tên chốn ấy mà gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên vậy. Đệ tử của đức Phật rất đông, không phải chỉ có 1.250 người, nhưng vì 1.250 vị đại A la hán nầy là những vị được Phật độ trước và theo hầu cận bên Phật luôn, nên trong kinh thường ước lược nói số đó. [4] A Dật Đa là tên của đức Di Lặc Bồ tát. Càn Đà Ha Đề Bồ tát là ngài Bất Hưu Tức Bồ tát. Thích Đề Hoàn Nhân là tên của Đế Thích, vua cõi trời Đao Lợi. [5] Y báo là chỗ nương ở, nhà cửa, ao vườn v.v... gọi chung là cõi nước, trong đây y báo là nước Cực Lạc. Chánh báo là quả báo chánh thể, tức là loài người, trời, chim thú v.v... trong đây chánh báo là đức Phật A Di Đà cùng Bồ tát, Thanh văn v.v... [6] Cõi nước ta đương ở đây gọi là ta bà có không biết bao nhiêu điều khổ lụy, nào tam khổ, bát khổ v.v... Trái lại, bên cõi Cực Lạc chỉ thuần có những điều vui sướng, nào tam lạc, bát lạc v.v… KHỔ Ở CÕI TA BÀ TAM KHỔ: 1. Khổ khổ: mang thân sắc người nặng nề, nhơ uế, sống nay chết mai nầy đã khổ lắm rồi, mà trên cái khổ đó lại còn chồng thêm không biết bao nhiêu là sự khổ khác nữa, như già, bệnh, đói khát, nóng rét v.v... 2. Hoại khổ: vô thường biến đổi, thân mạng như chỉ mành, tang thương xoay chuyển, như sương đầu cỏ, như móc buổi mai. 3. Hành khổ: trong mỗi niệm, tâm tưởng, thiên chuyển luôn không dừng... BÁT KHỔ: 1. Sanh khổ: ở thai bào tối tăm nhơ uế, lọt lòng đau khổ trăm bề… 2. Lão khổ: lụm cụm già nua, mắt mờ tai điếc, trí lãng, thần hôn, lưng mỏi, gối dùn, mặt nhăn đầu bạc... 3. Bệnh khổ: đau rên bứt rứt, nhức nhối xót xa, ngồi nằm không yên, đi đứng không ổn... 4. Tử khổ: ngộp mệt không ngằn, lộn tròng, méo miệng, chuyển xương, gân rút... 5. Cầu bất đắc khổ: lợi danh không toại, muốn phước trở mang họa, cầu thọ mà yểu vong... 6. Ái biệt ly khổ: cốt nhục phân tán, sanh biệt tử ly... 7. Oán tắng tội khổ: oan gia đối đầu, cừu thù gặp gỡ. 8. Ngũ ấm xí thạnh khổ: thân tâm dời đổi biến diệt, phút phút chẳng dừng, như ngọn lửa phừng không khác… VUI Ở CỰC LẠC TAM LẠC: 1. Lạc trung lạc: thân cùng độ đều thù thắng, thân nhẹ, cõi xinh, ấm no, khương kiện... 2. Bất biến hoại lạc: thân mạng trường tồn, cõi nước không thiêu diệt... 3. Bất động trí lạc: định huệ dung thông, chánh trí bất động... BÁT LẠC: 1. Sanh lạc: thác chất liên hoa, thanh tịnh hóa sanh... 2. Vô lão lạc: mãi mãi trẻ trung, không già không yếu... 3. Vô bịnh lạc: hằng hằng khương kiện, không bệnh, không đau... 4. Vô tử lạc: thọ mạng vô cùng, trường sanh bất diệt... 5. Toại nguyện lạc: tùy ý quả toại, y thực tự nhiên... 6. Vô ái biệt ly lạc: bạn lành hải chúng, thân cận không rời... 7. Vô oán tắng hội lạc: thuần là thượng thiện nhơn, đồng tâm xứng ý... 8. Vô ngũ ấm thạnh lạc: thân tâm thanh tịnh, thường trụ không dời... Không đâu khổ bằng ta bà, không đâu vui bằng Cực Lạc, vì thế mọi người nên nhàm lìa chốn ta bà mà nguyện về chốn Cực Lạc! [7] Bốn báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Trong đây nói bốn báu mà chính là gồm bảy báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, và mã não. Trong Quán Kinh nói: hoặc có thứ cây thuần bằng vàng, hoặc có thứ cây thuần bằng bạc v.v... hoặc có thứ cây thân vàng, lá bạc, nhánh lưu ly v.v... Dầu bằng chất thất bửu chớ vẫn là cây sống, cũng như cây bên nầy bằng chất gỗ. [8] Trong đây nói đất (địa) đó là chỉ thuận theo tiếng nầy mà gọi thế, chớ chính thật cõi Cực Lạc thuần bằng chất vàng... Tuyệt không có thứ đất bùn cát sỏi. Tám công đức của nước trong ao bên Cực Lạc: 1. Trong sạch 2. Nhẹ nhàng 3. Mát mẻ 4. Ngon ngọt 5. Đượm thuần 6. Êm đềm hòa huỡn 7. Uống vào hết đói khát 8. Bổ khỏe thân tâm. [9] Người trong nước Cực Lạc đều có thần túc thông, trong nháy mắt có thể đi trải qua vô lượng thế giới. Đi kinh hành là đi vòng quanh chậm rãi, vừa đi vừa suy gẫm tưởng niệm những pháp lành: Phật, Pháp và Tăng v.v... Đi kinh hành có hai điều lợi ích: 1. Thâu nhiếp tâm tưởng vào chánh niệm, phục trừ tà niệm loạn tưởng cùng biếng lười ngủ nghỉ. 2. Điều hoà thân thể, huyết khí lưu thông, tiêu hóa dễ dàng. [10] Tín, tấn, niệm, định, huệ: người tu hành có năm đức nầy thời vững chắc trên đường đạo như cây có rễ nên gọi là ngũ căn (cội rễ). Nếu tất cả cảnh duyên không thể khuấy rối làm lay động được, thời năm đức trên gọi là ngũ lực (sức mạnh). Thất Bồ đề Phần cũng gọi là thất giác chi (7 đức giác ngộ) là: Trạch pháp, Niệm, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Định, Xả. Bát thánh đạo phần là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Ở trong cõi ta bà nầy, những loài chim nhiếp thuộc vào súc sanh đạo, một ác đạo trong lục đạo, do ác nghiệp tội khiên mà chiêu cảm ra khổ báo ấy. Chim bên Cực Lạc thời khác hẳn, không phải là giống vật do tội báo cảm vời sanh ra, mà do thần lực của đức A Di Đà biến hóa ra để làm cho pháp âm được lưu chuyển khắp trong nước. [11] Đoạn nầy là đức Phật Thích Ca tự định danh nghĩa của ba tiếng A Di Đà, vì có hai điều vô lượng: 1) Vô lượng quang, 2) Vô lượng thọ, nên đức Phật bên nước Cực Lạc hiệu là A Di Đà. [12] A bệ bạt trí (Phạm âm) Hán dịch là bất thối chuyển, vào bậc nầy thời một mực đi trên đường thánh, thẳng đến thành Phật, không còn bị thối sụt xuống phàm phu hay tiểu thừa nữa. Tất cả mọi người được sanh về cõi Cực Lạc đều vào bậc bất thối cả, trong hàng bất thối lại có vô số bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát (vì Bồ tát chỉ còn là Bồ tát trong một đời hiện tại, mãn đời hiện tại thời thành Phật, như hiện nay đức Di Lặc Bồ tát ở cung trời Đâu Suất nội viện là bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát vậy). Các bậc thượng thiện nhơn là chỉ các bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát. [13] Cõi Cực Lạc rất thù thắng trang nghiêm, phải có nhiều căn lành phước đức mới được sanh về đó. Niệm Phật được nhất tâm bất loạn thời là thành tựu căn lành phước đức rất lớn, đến khi lâm chung đức Phật A Di Đà cùng Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát..v.v.. phóng quang đến rước, quyết định đặng sanh cõi Cực Lạc. - Niệm Phật không còn có móng tưởng gì khác, không có mảy may thinh sắc gì khác xen vào, vững vàng không xao động gọi là nhứt tâm bất loạn. [14] Người tu Tịnh độ phải có đủ ba điều: Tín (tin thật), Hạnh (chuyên tâm niệm Phật..v.v…) Nguyện (thiết tha muốn được sanh về cõi Cực Lạc) Trong ba điều nầy, lòng tin đứng trước cả mà cũng là nền tảng của tất cả căn lành vì thế nên chư Phật ở sáu phương đồng khuyên bảo, cho mọi người sanh lòng tin chắc chắn quyết định. - Hằng hà sa số: là số cát sông Hằng. Sông Hằng là con sông lớn bên Thiên Trúc, nguồn từ dãy núi Hy Mã, chảy ngang xứ Thiên Trúc, đổ vào Ấn Độ Dương. Lòng sông và hai bên bãi có cát rất nhiều và rất mịn. Đương thời đức Phật thường nói pháp gần bên sông, nên phàm khi muốn chỉ một số lớn quá nhiều thời mượn số cát trong sông Hằng mà nói. - Tướng lưỡi rộng dài biểu tượng của sự thành thật. Trong kinh nói người nào chót lưỡi liếm đến đầu mũi, thời người ấy trong ba đời đã qua không hề có một lời nói dối. Lưỡi dài liếm đến đầu mũi còn như thế, huống nữa là rộng dài trùm khắp cả thế giới? - Một thái dương hệ là một tiểu thế giới. Một nghìn tiểu thế giới là một tiểu thiên thế giới. Một nghìn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới. Một nghìn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Trải qua ba lần nhân cho số nghìn, nên gọi là tam thiên đại thiên thế giới (1 tiểu thế giới x 1.000 x 1.000 x 1.000 = 1 đại thiên thế giới). Đại thiên thế giới của ta ở đây tên là ta bà (Phạm âm) dịch là Kham nhẫn ngụ ý rằng trong cõi nầy có vô lượng sự thống khổ, mà chúng sanh trong đó vẫn kham chịu được. [15] Ngũ trựơc: 1. Kiếp trược: Kiếp là chỉ cho thời đại, thời gian. Trong thời đại nào mà có các món trược dưới đây thời là thời đại đục nhơ. 2. Kiến trược: Những điều mê chấp, tà kiến, điên đảo v.v… 3. Phiền não trược: Các tâm niệm bất thiện như tham, sân, si, mạn bất tín v.v… 4. Chúng sanh trược: Năm ấm (sắc, thọ,...) hiệp hội sanh diệt chẳng dừng. 5. Mạng trược: Số thọ rất ngắn, sống nay chết mai, mạng sống trong chừng hơi thở v.v… Năm món trên đây tánh cách nhiễu não, sai lầm, thiên biến vô thường nên đều gọi là trược (nhơ đục). *  PHỤ LỤC VÀI TÍCH VÃNG SANH CÓ CHỨNG NGHIỆM Những sự tích của các vị tu Tịnh độ được vãng sanh mà chúng ta được đọc đến, hầu hết là trích dịch ở sách Tàu mà những vị được vãng sanh kia là người Tàu. Người nước ta tu Tịnh độ, từ xưa đến nay há lại không có người được vãng sanh ư? Nếu có, sao không thấy sách nào ghi đến? Có vãng sanh cùng chép vào sách là hai chuyện. Từ xưa đến nay người nước ta tu Tịnh độ được vãng sanh rất nhiều, nhưng vì thiếu sót sự ký lục, thiếu sự lưu truyền, nên dầu có nhiều mà ít người được biết, có biết cũng chỉ riêng nơi nhóm người được mục kích, nhưng rồi nó cũng theo thời gian mà phai lần. Nhưng chính tôi cũng từng nghe biết nhiều người tu Tịnh độ khi lâm chung có chứng nghiệm chắc chắn được vãng sanh nhưng vì không ghi chép, không thường lập lại trong trí, nên nay thấy sự khuyết điểm như vừa nói ở trên, muốn tường thuật lại thời đã quên lãng gần hết, hoặc nhớ người mà quên tên họ, năm tháng v.v... Ghi chép mà không rành rẽ tên họ chỗ nơi, thời làm thế nào mà thủ tín được! Vài sự tích chép dưới đây may chăng nó có thể làm tiền phong bổ cứu điều khuyết điểm trên, mà từ đây về sau, lần lượt mọi người được đọc những trang tiểu sử vãng sanh có chứng nghiệm của các nhà đạo tâm vì mục đích vị tha tường thuật, để thật nghiệm lời Phật đã dạy và nẩy nở tín tâm của mình. Ngày 10-10 Mậu Tý (1948 DL). * NÁN LẠI MỘT NGÀY Bà Nguyễn thị Danh pháp danh Đạt Nhiên, người làng Thanh Hà hạt Chợ lớn, gần 60 tuổi mới phát tâm cầu đạo thọ pháp với Sư cụ chùa Tôn Thạnh chuyên tâm tu tịnh nghiệp. Đến năm Ất Dậu 1945 DL (năm bà 68 tuổi), bà nhuốm bịnh. Biết trước giờ vãng sanh, ngày 7 tháng 4, bà sai người đến chùa Tôn Thạnh thỉnh Sư cụ Liễu Thoàn rằng: Ngày mùng 8 tháng 4 nầy, bà theo Phật, xin thỉnh Sư cụ đến ngày đó xuống nhà để bà từ tạ. Nhưng vì ngày mùng 8 tháng 4 là ngày lễ Đản sanh của Đức Phật Thích Ca, Sư cụ mắc ở lại chùa hành lễ, nên thành ra sáng mùng 9, Sư cụ mới xuống đến. Thấy Sư cụ bà mừng rỡ mà bạch rằng: Từ hôm qua tới nay, tôi trông thầy lắm. Trước khi về Phật, tôi muốn gặp thầy để tạ từ. Đáng lẽ tôi đã đi hồi trưa hôm qua song vì chờ thầy nên tôi phải nán lại tới hôm nay. Bây giờ tôi sắp đi, xin nhờ thầy hộ cho một biến kinh. Sư cụ cùng vài người đệ tử lên trước bàn Phật tụng kinh A Di Đà, vừa xong quyển, thời bà ngồi chắp tay niệm Phật mà quy Tây. Bà có hai người con trai đều xuất gia, hiện đương coi chùa Linh Phong tại làng Tân Hiệp, tỉnh Mỹ Tho. * Ý NGUYỆN VÃNG SANH Bà Trần Thị Lai, người ở làng Tân Kim, hạt Chợ Lớn, năm 45 tuổi phát tâm tu hành. Có lời nguyện rằng: Tôi quyết chí tu hành, xin Phật cho tôi được vãng sanh vào ngày vía Đức A Di Đà Phật (17 tháng 11). Quả nhiên, đến ngày 17 tháng 11 năm Đinh Hợi (1947 D.L), bà niệm Phật mà từ trần. Con cháu của bà đều xuất gia, hiện nay đang tu tại chùa Pháp Tánh (làng Tân Kim, Chợ Lớn). * BIẾT TRƯỚC NGÀY GIỜ VÃNG SANH Ông Hồ Văn Định, người làng Long An (Chợ Lớn), năm 42 tuổi phát tâm mộ đạo, chuyên ròng niệm Phật tụng kinh. Đến năm Mậu Tý (1948 D.L) ngày mùng 3 tháng 9, ông nói trước vợ con rằng: Đến giờ Thân, thời tôi về Phật. Thật giờ Thân, ông chắp tay niệm Phật mà vãng sanh. Ba tích vãng sanh trên đây là của Sư cụ Liễu Thoàn (Hòa thượng chùa Tôn Thạnh ở Cần Giuộc) tường thuật. Sư cụ tự nói rằng những người tu Tịnh độ lúc lâm chung có thật nghiệm là được vãng sanh. Sư cụ tường thuật đây, đều là tận mắt Sư cụ mục kích trong khi Sư cụ đến hộ niệm. Ngoài ra Sư cụ còn thuật thêm 7 người nữa, như ông Nguyễn Văn Xá (làng Quy Đức) niệm Phật chờ mây trắng đến mà từ trần. Cô Nguyễn Thị Sao (làng Mỹ Lệ) trước giờ lâm chung thấy ba lằn mống bạc xẹt ngang mình từ đông sang tây v.v… Ôi! Sanh không biết từ đâu đến, chết không biết rồi sẽ về đâu, hãi hùng kinh sợ, giật mình lăn lộn, mắt trợn ngược, miệng kéo xếch, ngột hơi cứng lưỡi, chơn rút, tay vinh v.v... kể sao cho hết cảnh trạng thống khổ trong khi sắp chết của một phần đông trong số người cả đời không biết gì là điều lành, là đạo đức. Muốn “tử an” há lại dễ được lắm ư! Câu tử khổ từ xưa đức Phật đã từng răn nhắc! muốn khỏi “tử khổ” phải làm thế nào? Kinh nói: Khi con người sắp chết, thời tất cả cảnh tượng của những điều ác hay lành trọn trong đời của người đó gây tạo đều tuần tự phô diễn lại trong trí của người đó. Nếu cảnh dữ thời sẽ chết một cách đau khổ, sợ sệt. Còn cảnh lành thời đi một cách yên vui vững vàng. Biết trước ngày giờ mình sẽ từ giã thân ô trược nầy, khi đi thong dong tự tại, là những điều dành riêng cho những người hành đạo chơn chánh và đã đắc lực, mà dễ được nhứt là người tu về PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ (niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc). Ngày thường đã tu Tịnh độ thời là đã vun trồng chánh nhơn Tịnh độ. Nhơn thành thời kết quả. Trong kinh đức Phật có dạy: Nầy Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà... nơi cõi nước kia hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về. Lời của đức Phật, đấng Thiên Nhơn Sư, phán ra quyết định là đúng thật, đó là điều mà từ xưa đến nay, người có chánh tín, không ai là không công nhận PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ (niệm Phật A Di Đà cầu sanh về Cực Lạc) là pháp môn vừa thù thắng nhứt vừa giản tiện nhứt đó là lời các vị Tổ sư thường nói. Thù thắng nhứt, vì người tu Tịnh độ mau chứng bậc “bất thối”, mau “thành Phật”. Cho đến ngài Văn Thù, ngài Phổ Hiền là bậc Pháp vương tử mà còn nguyện sanh thay! Giản tiện nhứt, vì mọi người, bất luận là trí, ngu, nam, nữ, đều có thể thực hành và đều có thể thành tựu. Xem như nguyện của Bà Danh v.v... đến già mới phát tâm. Thời gian tu hành không bao lâu, mà đều có phần tự tại an vui khi lâm chung: người thời ngừng sự chết lại, người thời y như chỗ mình nguyện cầu, người biết rõ giờ khắc... Những sự tự tại an vui khi lâm chung của người tu Tịnh độ là thoại ứng được vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc vậy. Người tu Tịnh độ được như thế là do nhờ sức đại nguyện của đức Phật A Di Đà nhiếp thọ. Trong kinh “Vô Lượng Thọ Phật”, đức A Di Đà khi tu hạnh Bồ tát có phát 48 điều đại nguyện để nhiếp sanh. Ngài đã thực hành đầy đủ 48 điều đó, và hiện tại cũng như vị lai Ngài vẫn dùng 48 điều đại nguyện đó bủa khắp pháp giới để tiếp độ muôn loài. 48 LỜI ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ 1. Giả sử khi Ta được thành Phật, trong cõi nước của Ta còn có địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 2. Giả sử khi Ta được thành Phật, mà hàng trời, người trong nước Ta sau khi mạng chung còn phải đọa vào ba ác đạo, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 3. Giả sử khi Ta được thành Phật, tất cả thân thể của hàng trời, người trong nước Ta chẳng thuần sắc vàng ròng cả, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 4. Giả sử khi Ta được thành Phật, hình sắc của hàng trời, người trong nước Ta có tốt xấu không đồng nhau, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 5. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng biết túc mạng, ít nhứt là biết những việc trong trăm nghìn ức vô số kiếp, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 6. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng được Thiên nhãn, ít nhứt là thấy trăm nghìn ức vô số cõi nước của chư Phật, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 7. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng được Thiên nhĩ, ít nhứt là nghe lời thuyết pháp của trăm nghìn ức vô số đức Phật mà chẳng thọ trì trọn vẹn được, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 8. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng được tha tâm trí, ít nhứt là rõ biết tâm niệm của chúng sanh trong nghìn ức vô số cõi nước của chư Phật, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 9. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng được thần túc thông trong khoảng một niệm, ít nhứt chẳng vượt qua được trăm nghìn ức vô số cõi nước của chư Phật, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 10. Giả sử khi Ta được thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước Ta còn sanh lòng tham chấp nơi thân mình, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 11. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng trụ trong dòng chánh định mãi đến lúc thành Phật, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 12. Giả sử khi Ta được thành Phật, ánh sáng của Ta còn có hạn lượng, ít nhứt chẳng chiếu thấu trăm nghìn ức vô số cõi nước của chư Phật, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 13. Giả sử khi Ta được thành Phật, thọ mạng của Ta còn có hạn lượng, ít nhứt là trăm nghìn ức vô số kiếp, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 14. Giả sử khi Ta được thành Phật, có người tính đếm biết được số của hàng Thanh văn trong nước Ta, hoặc giả nhẫn đến tất cả chúng sanh trong cõi Tam thiên Đại thiên đều thành bực Duyên giác, cùng nhau đồng tính đếm trong trăm nghìn kiếp mà biết được số Thanh văn đó, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 15. Giả sử khi Ta được thành Phật, thọ mạng của hàng trời, người trong nước Ta không có hạn lượng, trừ khi họ có bổn nguyện riêng, dài ngắn tự tại theo ý muốn. Nếu không được vậy, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 16. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta nhẫn đến nghe có tên bất thiện, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 17. Giả sử khi Ta được thành Phật, các đức Phật trong vô lượng thế giới ở mười phương không đều ngợi khen xưng danh hiệu của Ta, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 18. Giả sử khi Ta được thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tín nhạo muốn sanh về nước của Ta, nhẫn đến trong mười niệm, nếu chẳng được vãng sanh, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác; chỉ trừ người phạm tội ngũ nghịch và chê bai chánh pháp. 19. Giả sử khi Ta được thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm tu các công đức, chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước của Ta, đến lúc người đó mạng chung, nếu Ta chẳng cùng với đại chúng vây quanh hiện ra nơi trước người đó, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 20. Giả sử khi Ta được thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của Ta, để tâm nơi nước của Ta vun trồng cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước của Ta, nếu không được quả toại, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 21. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng trời, người trong nước Ta chẳng đều thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 22. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Bồ tát ở Phật độ phương khác sanh về nước Ta rốt ráo chắc đến bậc Nhứt sanh bổ xứ, trừ những vị có bổn nguyện muốn tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ, chứa nhóm cội công đức, độ thoát mọi loài, đi qua cõi nước của chư Phật tu hạnh Bồ tát, cúng dường các đức Phật Như Lai ở mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh làm cho trụ vào đạo Vô thượng chánh chơn, vượt ngoài hạnh tu tuần thứ theo địa vị của hạng tầm thường, hiện tiền tu tập đức của Phổ Hiền, nếu chẳng được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 23. Giả sử khi Ta được thành Phật, Bồ tát trong nước Ta nương thần lực của Phật mà đi cúng dường các đức Như Lai, chừng trong khoảng một bữa ăn mà chẳng có thể đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước của chư Phật, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 24. Giả sử khi Ta được thành Phật, Bồ tát trong nước Ta ở trước chư Phật hiện cội công đức của mình, bao nhiêu những đồ muốn dùng để cúng dường chư Phật nếu chẳng có đúng như ý muốn đó, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 25. Giả sử khi Ta được thành Phật, Bồ tát trong nước Ta không thể diễn nói Nhứt thiết trí, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 26. Giả sử khi Ta được thành Phật, Bồ tát trong nước Ta không được thân kim cang bền chắc, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 27. Giả sử khi Ta được thành Phật, trong nước Ta, những hàng trời, người, tất cả muôn vật đều đẹp đẽ, trong sạch, sáng rỡ, hình sắc lạ thường, rất nhiệm, rất mầu, không ai có thể cân lường được. Những chúng sanh kia nhẫn đến người được Thiên nhãn mà có thể biện biết rõ ràng danh số của những vật trên đó, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 28. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng Bồ tát trong nước Ta, nhẫn đến những vị công đức kém ít mà không thấy biết được Đạo Tràng Thọ cao bốn trăm muôn dặm, vô lượng màu sắc, vô lượng ánh sáng, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 29. Giả sử khi Ta được thành Phật, nếu Bồ tát trong nước Ta đọc kinh pháp, phúng tụng, thọ trì, giảng thuyết mà không được trí huệ biện tài, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 30. Giả sử khi Ta được thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước Ta nếu có người hạn lượng được đó, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 31. Giả sử khi Ta được thành Phật, cõi nước của Ta thanh tịnh, thảy đều soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị cõi nước của chư Phật ở mười phương, dường như gương sáng soi thấy rõ bóng mặt. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 32. Giả sử khi Ta được thành Phật, trong nước Ta, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lầu đài, ao nước, cây hoa... tất cả muôn vật đều do vô lượng chất báu đẹp cùng trăm nghìn thứ hương thơm hiệp chung lại làm thành, nghiêm sức tốt lạ, hơn hẳn hàng trời người. Mùi thơm của những vật ấy xông khắp cả cõi nước ở mười phương. Bồ tát ngửi được mùi hương ấy thì đều tu hạnh của Phật. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 33. Giả sử khi Ta được thành Phật, những loài chúng sanh trong vô lượng bất khả tư nghị cõi nước của chư Phật ở mười phương được ánh sáng của Ta chiếu đến thân, thì thân tâm của chúng sanh ấy hòa dịu hơn hẳn hàng Trời, Người. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 34. Giả sử khi Ta được thành Phật, những loài chúng sanh trong vô lượng bất khả tư nghị cõi nước chư Phật ở mười phương, nghe danh tự của Ta mà chẳng được các món tổng trì sâu mầu cùng Vô sanh pháp nhẫn của Bồ tát, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 35. Giả sử khi Ta được thành Phật, những người nữ trong vô lượng bất khả tư nghị cõi nước của chư Phật ở mười phương nghe danh tự của Ta mà vui mừng tin mến phát Bồ đề tâm, nhàm ghét thân gái, nếu sau khi mạng chung còn thọ thân gái trở lại, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 36. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng Bồ tát trong vô lượng bất khả tư nghị cõi nước của chư Phật ở mười phương thế giới nghe danh tự của Ta, thì sau khi mạng chung vẫn thường tu hạnh thanh tịnh đến lúc thành Phật đạo. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 37. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Trời, Người nhơn dân trong vô lượng bất khả tư nghị cõi nước của chư Phật ở mười phương nghe danh hiệu của Ta, năm vóc gieo xuống đất, cúi đầu lễ lạy, vui mừng tin mến, tu hạnh Bồ tát, thì các hàng Trời, Người đều kính trọng đó. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 38. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng Trời, Người trong nước Ta muốn được y phục, thì những y phục tốt đẹp đúng phép của đức Phật ngợi khen liền tùy niệm tự nhiên hiện đến trên thân, nếu còn phải cần may vá, đập, nhuộm giặt... Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 39. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng Trời, Người trong nước Ta hưởng thọ sự vui sướng không bằng bực lậu tận Tỳ kheo, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 40. Giả sử khi Ta được thành Phật, Bồ tát trong nước Ta tùy ý muốn thấy vô lượng cõi Phật nghiêm tịnh ở mười phương, tức thì ở trong cây báu thảy đều soi thấy rõ ràng đúng như ý muốn chẳng khác gương sáng soi thấy bóng mặt. Nếu không như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 41. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Bồ tát ở nước phương khác nghe danh tự của Ta, mãi đến lúc thành Phật, nếu các căn thiếu xấu chẳng đầy đủ, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 42. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Bồ tát ở nước phương khác nghe danh tự của Ta thảy đều chứng được chánh định thanh tịnh giải thoát. Trụ trong chánh định đó, trong khoảng móng niệm liền cúng dường khắp vô lượng bất khả tư nghị các đức Phật Thế Tôn, mà vẫn không quên mất tâm chánh định. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 43. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Bồ tát ở cõi nước phương khác nghe danh tự của Ta, sau khi mạng chung sanh vào nhà tôn quý. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 44. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Bồ tát ở cõi nước phương khác nghe danh tự của Ta, vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ tát đầy đủ cội công đức. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 45. Giả sử khi Ta được thành Phật, các hàng Bồ tát ở cõi nước phương khác nghe danh tự của Ta, thảy đều chứng được Chánh định phổ đẳng. Trụ trong chánh định đó, mãi đến lúc thành Phật, thường thấy tất cả vô lượng bất khả tư nghị các đức Phật. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 46. Giả sử khi Ta được thành Phật, Bồ tát trong nước Ta tùy ý muốn nghe pháp chi, thì tự nhiên liền được nghe pháp đó. Nếu không được như thế, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 47. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng Bồ tát ở cõi nước phương khác nghe danh tự của Ta, chẳng liền được bực Bất thối chuyển, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác. 48. Giả sử khi Ta được thành Phật, hàng Bồ tát ở cõi nước phương khác nghe danh tự của Ta, mà chẳng liền chứng được bực Âm hưởng nhẫn, Nhu thuận nhẫn và Vô sanh pháp nhẫn cùng ở nơi pháp của chư Phật mà chẳng liền được bực Bất thối chuyển, Ta nguyện không chứng lấy quả Chánh giác.


^